TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản số: 11/2025/HS-ST Ngày: 25/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn và bà Hồ Thị Hồng Nhung
- - Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS, ngày11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo: Trần Thị P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1994 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần L, sinh năm 1964 ( đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; chồng: Trần B, sinh năm 1993 và có 01 người con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 15/11/2024; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ; Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C – sinh năm: 1971; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 06/11/2024, Trần Thị P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Viison, gắn biển số 74L1-092.23, đi đến khu vực bờ sông S thuộc khóm T, thị trấn L, huyện H để tìm người thuê vận chuyển pháo. Tại đây, P được một người đàn ông lạ mặt không rõ lai lịch thuê vận chuyển 08 hộp pháo hoa nổ về huyện C với giá 600.000 đồng, P đồng ý. Người này giao cho P 08 hộp pháo hoa nổ đựng trong một túi nylon màu đen và nói với P vận chuyển số pháo nổ này đến khu vực ngã ba C, xã C, huyện C, sẽ có người nhận và trả tiền công. P lấy 02 hộp pháo bỏ vào trong cốp xe mô tô, 06 hộp còn lại cho vào trong một giỏ nhựa màu đỏ rồi bỏ ở sàn gác chắn trước, rồi điều khiển xe mô tô theo Quốc lộ I về thành phố Đ. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Trần Thị P điều khiển xe mô tô vận chuyển số pháo nói trên đi đến K+929 Quốc lộ I thuộc địa phận thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị thì lực lượng Công an huyện Đ quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 1242/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật đựng trong thùng giấy được niêm phong có ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 14,8 kilôgam.
Cáo trạng số 03/CT-VKSĐKR ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Trần Thị P về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 07 hộp pháo hoa nổ, trên bề mặt có dòng chữ số “OK04-23-01”, kích thước mỗi hộp (17,8 x17,8 x10)cm có tổng khối lượng 12,9 kilôgam, được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu P có dấu của phòng K Công an tỉnh Q; 01 thùng giấy ký hiệu từ BG, kết quả mở niêm phong bên là bên trong đựng : 01 bao nilon màu trắng, bên trên có dòng chữ “Linh T” sau khi làm thẳng có kích thước (48x37)cm; 01 bao ni lon màu trắng trong suốt, sau khi làm thẳng có kích thước (100x70)cm; 04 bao ni lon màu đen đã bị rách, không rõ hình dạng kích thước; 01 giỏ nhựa màu đỏ, kich thước (42x37x20)cm.
Về án phí: Bị cáo Trần Thị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, tại 42+929 Quốc lộ I thuộc địa phận thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ quả tang Trần Thị P vận chuyển 08 hộp pháo hoa nổ. Kết luận giám định số: 1242/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật đựng trong thùng giấy được niêm phong có ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 14,8 kilôgam.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị P khai nhận toàn bộ 08 hộp pháo hoa nổ nói trên bị cáo nhận vận chuyển của một người đàn ông không xác định được lai lịch từ khu vực bờ sông S, khóm T, thị trấn L, huyện H về khu vực ngã ba Cùa, xã C, huyện C để nhận 600.000 đồng tiền công vận chuyển. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, khẳng định hành vi của bị cáo Trần Thị P cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Thị P theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Hành vi vận chuyển 14,8 kilôgam pháo hoa nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành và sử dụng. Bị cáo Trần Thị P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhưng do hám lợi mà bị cáo vẫn bất chấp các quy định của pháp luật nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đây là loại tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có quy định khung hình phạt tiền đối với người phạm tội ít nghiêm trọng; tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do tại địa phương, không có thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, thấy rằng không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục răn đe bị cáo và nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm cải tạo thành người tốt cho xã hội (Căn cứ khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự).
Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự).
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 07 hộp pháo hoa nổ, trên bề mặt có dòng chữ số “OK04-23-01”, kích thước mỗi hộp (17,8 x17,8 x10)cm có tổng khối lượng 12,9 kilôgam, được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu P có dấu của phòng K Công an tỉnh Q; 01 thùng giấy ký hiệu từ BG, kết quả mở niêm phong bên là bên trong đựng: 01 bao nilon màu trắng, bên trên có dòng chữ “Linh T” sau khi làm thẳng có kích thước (48x37)cm; 01 bao ni lon màu trắng trong suốt, sau khi làm thẳng có kích thước (100x70)cm; 04 bao ni lon màu đen đã bị rách, không rõ hình dạng kích thước; 01 giỏ nhựa màu đỏ, kích thước (42x37x20)cm; là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).
01 xe môtô nhãn hiệu HONDA Vi son, màu sơn đỏ, số máy: JF86E5106356; số khung RLHJF583XKZ640701;gắn biển kiểm soát: 74L1-092.23; bà Nguyễn Thị C là chủ sỡ hữu, bà C cho bị cáo Trần Thị Phương M, bà không biết bị cáo sử dụng để vận chuyển pháo nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà C; quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát Điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà C, tại phiên Tòa bà C vắng mặt nhưng tài liệu trong hồ sơ thể hiện bà C không có yêu cầu gì; Hội đồng xét xử không xem xét.
01 Điện thoại di động Xiaomi, Redmi 9A, màu xanh dương, số IMEL1: 86215695626629, IMEL2: 8621560566637, máy đã qua sử dụng ; Cơ quan cảnh sát Điều tra đã trả lại cho bị cáo; việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu nói trên là đúng quy định pháp luật; Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông thuê Trần Thị P vận chuyển số pháo trên, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không có kết quả, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Thị P phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị P 09 ( chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 25/02/2025).
Giao bị cáo Trần Thị P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,:
- -Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 07 hộp pháo hoa nổ, trên bề mặt có dòng chữ số “OK04-23-01”, kích thước mỗi hộp (17,8 x17,8 x10)cm có tổng khối lượng 12,9 kilôgam, được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu P có dấu của phòng K Công an tỉnh Q; (Vật chứng hiện Công an huyện Đ đang bảo quản)
- - 01 thùng giấy, ký hiệu từ BG, kết quả mở niêm phong là bên trong đựng: 01 bao nilon màu trắng, bên trên có dòng chữ “Linh T” sau khi làm thẳng có kích thước (48x37)cm; 01 bao ni lon màu trắng trong suốt, sau khi làm thẳng có kích thước (100x70)cm; 04 bao ni lon màu đen đã bị rách, không rõ hình dạng kích thước; 01 giỏ nhựa màu đỏ, kich thước (42x37x20)cm. (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị P phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/02/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Hà |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị P " vận chuyển hàng cấm"
