Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

Bản án số: 11/2025/HSST

Ngày: 10-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Trường Tam .

Ông Đặng Văn Vững.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST - HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày: 15/02/2000.

Nơi thường trú: thôn H, khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị L; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 109/2020/HSPT ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng, xử phạt 07 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/4/2024; Tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 145/QĐ-CSHS, ngày 14/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Định khởi tố bị can, về tội “Cướp giật tài sản”; Quyết định số 180/QĐ-ĐCSHS-KT-MT, ngày 08/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Bình Định khởi tố bị can, về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Dương Ngọc M, sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Cư trú: 85/10/13 Trần Văn Đ1, phường T, thành Phố T, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Mai Thị Hồng T1, sinh năm: 1996 (vắng mặt).

Cư trú: 480/1 Tổ D, Khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 03/10/2024 Nguyễn Đức T là người có 01 tiền án chưa được xóa án tích gặp đối tượng Huỳnh Quốc D tại khu vực thành phố T (Quận B), Tp .. Tại đây, D rủ T đi tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius gắn biển số giả 59D2-063.95 chở D đi về địa bàn huyện C tìm tài sản. Khi cả 02 đi đến khu vực thuộc Khu phố B, thị trấn C, huyện C thì phát hiện xe mô tô biển số: 63P1-262.56 của Dương Ngọc M đang đậu trước dãy nhà trọ của bà Đặng Thị Ú, xe có gắn sẵn chìa khóa không người trông coi nên T dừng xe lại, D đứng cảnh giới, T đi bộ lại nơi dựng xe, lén lút lấy trộm xe mô tô nói trên, rồi dẫn ra đường nổ máy tẩu thoát về hướng Tp .. Ngày 04/10/2024 T lấy biển số giả 36B4-719.85 gắn vào xe trộm được rồi cùng D đi tìm nơi tiêu thụ. Khi T đi đến khu vực Quận H, Tp . thì bị Cơ quan Công an nghi vấn mời về làm việc, T đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình và giao nộp tài sản đã lấy trộm, riêng D trốn thoát.

Kết luận định giá tài sản số: 39/KL-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng đỏ đen, biển số: 63P1-262.56, trị giá 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSCG, ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Đức T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy thẻ sim điện thoại di động số 0899.706.xxx do Nguyễn Đức T giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Dương Ngọc M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, hiện không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra, tạm giữ và hoàn trả : 01 (một) xe mô tô, hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng đỏ đen cho anh Dương Ngọc M, là phù hợp đề nghị không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo V2206 màu xanh đen, bị cáo giao nộp có liên quan đến vụ cướp giật tài sản xảy ra ngày 07/8/2024 tại thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an thị xã H, tỉnh Bình Định xử lý theo quy định; Đối với biển số: 36B4-719.85 do chị Mai Thị Hồng T1 đứng tên chủ sở hữu, khoảng tháng 02/2021 chị T1 bị mất trộm xe tại Khu phố F, phường L, Tp ., tỉnh Đồng Nai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có Văn bản thông báo đến Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tiếp tục xác minh, làm rõ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Do cần tiền tiêu xài, nên vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 03/10/2024, tại Khu phố B, thị trấn C, huyện C, bị cáo T và đối tượng theo bị cáo T khai tên Huỳnh Quốc D đã thống nhất ý chí, lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng đỏ đen, biển số: 63P1-262.56 của anh Dương Ngọc M. Trên

đường đem xe đi tiêu thụ thì bị Cơ quan Công an nghi vấn mời về làm việc và bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Theo Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS, ngày 07/10/2024, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C xác định 01 (một) xe mô tô bị cáo chiếm đoạt trị giá là 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng). Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Đối với đối tượng Huỳnh Quốc D theo bị cáo T khai là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 03/10/2024. Qua điều tra, chưa làm việc được với D và chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo T nên chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can. Do đó, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có một tiền án theo Bản án số 109/2020/HSPT ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng, xử phạt 07 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/4/2024, thì ngày 03/10/2024 bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội mới với lỗi cố ý, thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự và là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền án như đã phân tích tại phần [5] và hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Định và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Bình Định khởi tố bị can, cùng về tội “Cướp giật tài sản”. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[8] Về vật chứng: đối với 01 (một) xe mô tô, hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng đỏ đen. Qua điều tra, xác định xe mô tô thuộc sở hữu của anh Dương

Ngọc M nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho anh M. Đối với thẻ sim điện thoại di động mang số 0899.706.667 của bị cáo T, xét thấy thẻ sim bị cáo sử dụng liên lạc với đối tượng D để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy. Là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo V2206 màu xanh đen, do bị cáo giao nộp có liên quan đến vụ cướp giật tài sản xảy ra ngày 07/8/2024 tại thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an thị xã H, tỉnh Bình Định xử lý theo quy định (bút lục số 94); Đối với biển số xe mô tô: 36B4-719.85 do chị Mai Thị Hồng T1 đứng tên chủ sở hữu, khoảng tháng 02/2021 chị T1 bị mất trộm xe tại Khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có Văn bản số 12/TB-ĐTTH, ngày 02/01/2025 thông báo đến Công an thành phố B tiếp tục xác minh, làm rõ.

[9] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại Dương Ngọc M vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 64-65) đã nhận lại tài sản là xe mô tô và không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xem xét.

[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Đức T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/10/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy thẻ sim điện thoại di động mang số 0899.706.667.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKSCG, ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THA huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cần Giuộc, ngày 10 tháng 02 năm 2025

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 10 tháng 02 năm 2025.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Trường Tam .

Ông Đặng Văn Vững.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS, ngày 14/01/2025 đối với bị cáo: Nguyễn Đức Tùng.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Tùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Nguyễn Đức Tùng 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/10/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Các vấn đề khác:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy thẻ sim điện thoại di động mang số 0899.706.667.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKSCG, ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 10 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

VÕ TRƯỜNG TAM – ĐẶNG VĂN VỮNG

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HSST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger