Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Quang Vinh;
  2. Ông Lê Văn Dài;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) gồm Hội đồng xét xử, Thư ký, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình; Nhà tạm giữ Công an huyện T (điểm cầu thành phần) gồm bị cáo và các chiến sĩ hỗ trợ phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/HSST-QĐ, ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Huỳnh Võ Công M, sinh ngày 12/5/1997; Tên gọi khác: Minh T; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Huỳnh Công P, sinh năm: 1977 và bà Võ Thị Phượng E, sinh năm: 1980; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình ban hành Quyết định số 06/2020/QĐ-TA, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng, chưa thi hành. Tạm giữ: Ngày 14/4/2024; Tạm giam: Ngày 20/4/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Minh T1 (L1), sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Trần Văn T2, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Trần Thị Kim N, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Nguyễn Thanh P1 (H), sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Lâm Kiếm H1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  6. Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Tất cả người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Võ Công M khai nhận: M là người nghiện ma tuý nhưng không có việc làm, để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên vào ngày 12/4/2024, M đã mua ma túy của Nguyễn Minh T1 (tên gọi khác: L), sinh năm 1989, cư trú ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, với số tiền 700.000 đồng về chia nhỏ bán lại kiếm lời.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, M đang ở nhà thuộc ấp B, xã A, huyện T, thì Trần Văn T2, sinh năm 1995, cư trú ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, sử dụng điện thoại của Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1990, cư trú ấp T, xã A, huyện T, điện thoại cho M hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, M đồng ý bán và hẹn đến nhà M lấy ma túy. Sau đó, M chuẩn bị 01 đoạn ống hàn kín bên trong có chứa ma tuý, để lên bàn tròn bằng gỗ trước sân nhà, dùng tấm lau bằng vải đậy lại rồi đợi T2 đến nhận ma túy. Sau khi điện thoại cho M xong, T2 rủ thêm Trần Thị Kim N, sinh năm 1994, cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, cùng đi nhưng chỉ nói là đi uống cà phê chứ không nói cho N biết là đi mua ma túy nên N đồng ý.

Đến 12 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô chở N đến nhà của M rồi kêu đứng ngoài xe đợi, T2 một mình đi vào kêu M đi ra và đưa cho M số tiền 200.000 đồng, M cất vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi chỉ T2 lấy 01 đoạn ống hút có chứa ma tuý để sẵn trước đó. Khi T2 lấy ma tuý bỏ vào túi quần rồi đi ra đường thì lực lượng Công an đến bắt quả tang. Qua kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ: trong túi quần trước bên phải của T2 có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa nhiều chất tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1. Qua kiểm tra, phát hiện trong ngăn tủ giữa đầu giường ngủ của M có 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp một đầu viền màu đỏ, kẹp kín, bên trong có chứa nhiều chất tinh thể rắn rắn màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong vào phong bì ký hiệu B1 và một số tang vật khác có liên quan.

Kết quả điều tra xác định, ngoài lần bán trái phép chất ma túy bị bắt quả tang. Trước đó, M đã nhiều lần bán trái phép chất ma tuý cho Trần Văn T2; Nguyễn Thanh P1 (Hắc), sinh năm 1993, cư trú ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và Lâm Kiếm H1, sinh năm 1991, cư trú ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, cụ thể:

- Bán trái phép chất ma túy cho Tèo 01 lần: Vào khoảng 23 giờ ngày 13/4/2024, M đang ở nhà thì T2 sử dụng điện thoại của N1 gọi cho M để hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, M đồng ý và hẹn giao nhận ma túy tại nhà của M. Sau đó, T2 rủ N đi uống cà phê, mục đích là đi lấy ma túy nhưng không nói rõ với N. Khi đến trước nhà của M thì T2 đưa cho cho N cầm số tiền 200.000 đồng và kêu N lấy đồ dùm, do T2 phải điều khiển xe nên N không biết là T2 mua ma túy. Sau đó, M đi từ trong nhà ra gặp T2 và N đang ngồi trên xe, N đưa cho M số tiền 200.000 đồng, rồi M đưa cho N 01 đoạn ống hút màu trắng, sọc trắng, hàn kín có chứa ma túy. Rồi T2 chở N về nhà của N1, tại đây N đưa lại ma túy lại cho T2 rồi T2 đem đi nơi khác sử dụng một mình.

- Bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh P1 02 lần như sau:

+ Lần 1: Vào khoảng 20 giờ ngày 10/4/2024, M đang ở nhà thì P1 điện thoại hỏi mua ma tuý với số tiền 150.000 đồng, M đồng ý và hẹn giao nhận ma tuý tại nhà của M. Khoảng 05 phút sau, M nhìn thấy P1 chạy xe một mình đến trước nhà nên mang 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu có chứa ma tuý đưa P1 và lấy số tiền 150.000 đồng, P1 đem ma túy về nhà sử dụng một mình.

+ Lần 2: Vào khoảng 22 giờ ngày 13/4/2024, M đang ở nhà thì P1 điện thoại cho M hỏi mua ma tuý với số tiền 200.000 đồng, M đồng ý và hẹn giao nhận ma tuý tại nhà M. Khoảng 05 phút sau, M nhìn thấy P1 đi cùng với người bạn tên Đ nhà ở ấp N, xã A, huyện T nên đã mang 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu có chứa ma tuý đưa cho P1 và lấy số tiền 200.000 đồng. Số ma túy này, P1 đem về nhà sử dụng một mình.

- Bán trái phép chất ma túy cho Lâm Kiếm H1 03 lần vào khoảng thời gian đầu tháng 4/2024, cách nhau khoảng 02 – 03 ngày, chưa xác định được ngày cụ thể. Mỗi lần có nhu cầu sử dụng ma túy, H1 điện thoại cho M hỏi mua ma túy với số tiền 150.000 đồng rồi hẹn giao tại trước nhà M 02 lần và 01 giao ở trước nhà của H1. Sau đó, H1 sử dụng một mình hết số ma túy nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Võ Công M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số 497/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • Tinh thể rắn chứa trong 01 đoạn ống hút có sọc màu trắng hàn kín hai đầu, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,022 gam, loại Methamphetamine.
  • Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,184 gam, loại Methamphetamine.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng, hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma tuý được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1, ngày 14/4/2024, để gửi giám định chất ma túy. Đã trích hết mẫu phục vụ công tác giám định và hoàn trả lại vỏ đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng, được niêm phong vào phong bì niêm phong số 490/A1, ngày 14/4/2024.
  • 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ, hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu B1, ngày 14/4/2024, để gửi giám định chất ma túy. Đã trích mẫu giám định và hoàn trả lại mẫu vật giám định là 01 phong bì được niêm phong, ghi niêm phong số 490/B1, ngày 14/4/2024.

- Thu giữ của Huỳnh Võ Công M:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh qua sử dụng được niêm phong vào phong bì ký hiệu A2, ngày 14/6/2024.
  • Số tiền 740.000 đồng được niêm phong vào phong bì ký hiệu A3, ngày 14/4/2024.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh màu trắng trong suốt, nắp bằng nhựa màu xanh có khoét hai lỗ tròn gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng).
  • 04 cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng).
  • 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng, cắt nhọn một đầu.
  • 01 hộp giấy màu đen có dòng chữ “THE BEST” màu vàng (đã qua sử dụng).
  • 15 đoạn ống hút nhựa nhiều màu xanh, trắng, đỏ.
  • 10 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu, viền màu đỏ.
  • 01 nắp nhựa màu xanh có khoét hai lổ tròn, có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh (đã qua sử dụng).

Đối với số tiền 740.000 đồng thu giữ của M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có căn cứ xác định trong đó có số tiền 400.000 đồng do M thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép chất ma túy (từ 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn T2). Ngoài ra, qua 07 lần bán trái phép chất ma túy đã chứng minh, M đã thu lợi bất chính được tổng số tiền 1.200.000 đồng, nên cần truy thu số tiền bán trái phép chất ma túy theo quy định.

Trong quá trình điều tra, Huỳnh Võ Công M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng; kết luận giám định chất ma túy, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSHTB, ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Huỳnh Võ Công M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo M. Đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Huỳnh Võ Công M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Võ Công M với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định và cũng không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án xử lý như cáo trạng đã nêu.
  • Buộc bị cáo M nộp tiền mua bán ma túy trái phép thu lợi bất chính 1.200.000 đồng.
  • Tiếp tục quản lý số tiền 740.000 đồng của bị cáo M để đảm bảo thi hành án.

Đối với việc Huỳnh Võ Công M khai nhận đã mua ma túy của Nguyễn Minh T1 (tên gọi khác là L), sinh năm: 1989, cư trú: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình điều tra, T1 không thừa nhận bán ma tuý cho M, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đối chất nhưng các bên vẫn giữ lời khai của mình. Xét thấy, chỉ có duy nhất lời khai của M và không có chứng cứ khác chứng minh T1 bán ma túy cho M. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T1.

Đối với Trần Thị Kim N có hành vi đi theo Trần Văn T2 đến nhà của M nhưng không biết việc mua bán. Do đó, không xem xét xử lý hành vi không tố giác tội phạm của N.

Đối với Trần Văn T2, Nguyễn Thanh P1 và Lâm Kiếm H1 đã mua ma túy của M mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản đề nghị xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Võ Công M thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 03/CT-VKSHTB ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình là đúng.

Bị cáo Huỳnh Võ Công M là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần. Cụ thể: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 4/2024 đến ngày 14/4/2024, bị cáo M đã bán trái phép chất ma túy đá loại Methamphetamine cho Trần Văn T2 02 lần, Nguyễn Thanh P1 02 lần và Lâm Kiếm H1 03 lần, với tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng. Đồng thời, bị cáo M còn tàng trữ trái phép 0,184 gam chất ma túy, loại Methamphetamine mục đích để tiếp tục bán lại cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang lúc 12 giờ 15 phút ngày 14/4/2024 tại ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Hành vi của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang ngày 14/4/2024 và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Võ Công M đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét hành vi của bị cáo M, khi thực hiện tội phạm là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài, thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy không chỉ một lần mà nhiều lần thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Đồng thời, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác, trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự nên cần xem xét giảm nhé một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp cũng như thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

Đối với 1,47 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 ống hút nhựa màu trắng, soc trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh màu trắng trong suốt, nắp bằng nhựa màu xanh có khoét hai lỗ tròn gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng); 04 cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng, cắt nhọn một đầu; 01 hộp giấy màu đen có dòng chữ “THE BEST” màu vàng (đã qua sử dụng); 15 đoạn ống hút nhựa nhiều màu xanh, trắng, đỏ; 10 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu, viền màu đỏ; 01 nắp nhựa màu xanh có khoét hai lổ tròn, có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh (đã qua sử dụng) là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu xanh là công cụ phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Tiếp tục quản lý số tiền 740.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2025).

Buộc bị cáo M nộp lại số tiền 1.200.000 đồng thu lợi từ việc bán ma túy sung Ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 03/CT-VKSHTB ngày 24/12/2024 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.

[12] Trách nhiệm của những người liên quan: Đối với Nguyễn Minh T1, Trần Văn T2, Nguyễn Thanh P1, Lâm Kiếm H1 và Trần Thị Kim N cáo trạng và luận tội không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Võ Công M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"
  2. Căn cứ pháp luật và hình phạt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Võ Công M 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024.

  1. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu xanh được niêm phong ký hiệu A2, ghi ngày 01/11/2024 có chữ ký Lê Ngọc N2, Lê Bá T3, Huỳnh Võ Công M và đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 phong bì niêm phong số 490/A1, ngày 14/4/2024, có chữ ký ghi họ tên Lê Minh V, Lê Ngọc N2, in hai dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Trần Văn T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ (bên trong chứa đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng).
  • 01 phong bì được niêm phong, ghi niêm phong số 490/B1, ngày 14/4/2024, có chữ ký ghi họ tên Lê Minh V, Lê Ngọc N2, Huỳnh Võ Công M và đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ (bên trong chứa mẫu tinh thể rắn hoàn lại sau giám định là chất ma túy có khối lượng 0,147 gam).
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh màu trắng trong suốt, nắp bằng nhựa màu xanh có khoét hai lỗ tròn gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng).
  • 04 cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng).
  • 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, sọc trắng, cắt nhọn một đầu.
  • 01 hộp giấy màu đen có dòng chữ “THE BEST” màu vàng (đã qua sử dụng).
  • 15 đoạn ống hút nhựa nhiều màu xanh, trắng, đỏ.
  • 10 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu, viền màu đỏ.
  • 01 nắp nhựa màu xanh có khoét hai lổ tròn, có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh (đã qua sử dụng).

Buộc bị cáo Huỳnh Võ Công M nộp thu lợi bất chính với số tiền 1.200.000 (Một triệu, hai trăm nghìn) đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Tiếp tục quản lý số tiền 740.000 (Bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng để đảm bảo thi hành án được niêm phong ký hiệu A3 ngày 14/4/2024, có chữ ký ghi họ tên Trần Anh K, Võ Văn H2, Huỳnh Võ Công M và đóng hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2025).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Huỳnh Võ Công M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - CA huyện Thanh Bình;
  • - THADS huyện Thanh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đô

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Quang Vinh – Nguyễn Hoàng Minh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger