Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Ý YÊN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Dung, ông Nguyễn Trọng Tảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bùi Bích Ngọc - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh T - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Hồng K, sinh ngày 09/10/1977; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 7/12; con ông Vũ Hồng Đ và bà Phạm Thị L; có vợ: Nguyễn Thị H và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 24 ngày 28/9/1995 của TAND huyện Ý Yên tuyên phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 13 ngày 01/6/1998 của TAND huyện Ý Yên tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 22 ngày 11/4/2019 của TAND huyện Ý Yên tuyên phạt 30 tháng từ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2024 đến ngày 14/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N.

Bị hại: Chị Bùi Thị L1, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Thái Văn L2, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện T, tp ..

Nguyên đơn dân sự: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội,

Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

  • - Ông Phan Đình H1, sinh năm 1958
  • - Anh Phan Đình Đ1, sinh năm 1987
  • - Ông Phan Văn L3, sinh năm 1961
  • - Ông Nguyễn Sao M, sinh năm 1967
  • - Anh Phạm Văn Đ2, sinh năm 1981
  • - Ông Phạm Đức T2, sinh năm 1966

Có mặt bị cáo; Vắng mặt: bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/7/2024, K đi đến khu vực nhà chị Bùi Thị L1 ở thôn Q, xã H, huyện Ý phát hiện gian bếp nhà chị L1 có 01 xe mô tô Honda – Vision màu xanh đen nên K nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, K gọi điện thoại cho Phạm Văn H2 trú tại thành phố N kể về chiếc xe của chị L1. H2 nói với K: “Để tao bảo thằng em sang gặp mày”. Chiều ngày 09/07/2024 có một nam thanh niên tên H3 nói là bạn của H2 đến gặp K tại khu vực cổng nhà nghỉ Á thuộc thôn C, xã H, bàn nhau việc trộm cắp chiếc xe mô tô của chị L1. K dẫn H3 đi đến khu vực nhà chị L1 quan sát. H3 hẹn K 1-2 ngày sau sẽ cùng nhau lấy trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Khoảng 01 giờ ngày 12/07/2024, H3 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream màu đỏ trắng đến khu vực đường sắt thuộc thôn C, xã H chở K đến nhà chị L1 để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực gần nhà chị L1, H3 bảo K đứng ngoài để canh phòng còn mình đi bộ theo ngõ xóm, trèo tường phía sau vườn vào trong gian bếp chị L1 lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda - Vision màu xanh đen, BKS: 18D1-721.59. H3 mở cổng điều khiển xe đến chỗ K đang đứng, mở cốp xe thấy có 01 Đăng ký xe, 01 Thẻ căn cước công dân đều mang tên Bùi Thị L1. K điều khiển xe Dream của H3 về nhà nghỉ Á, còn H3 điều khiển chiếc xe trộm cắp được của chị L1 đi về thành phố N.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H2 và H3 đến khu vực cổng nhà nghỉ Á cùng K thống nhất việc K đưa xe của chị L1 đi bán. K điều khiển xe mô tô BKS 18D1-72159 đến cửa hàng cầm đồ của ông Phan Văn L3 cầm cố lấy số tiền 10.000.000 đồng. Đến ngày 18/7/2024, K đến cửa hàng cầm đồ lấy lại chiếc xe. Ngày 21/07/2024, K điều khiển xe mô tô BKS: 18D1-721.59 đến Cửa hàng mua bán xe máy cũ của ông Thái Văn L2 bán chiếc xe với số tiền 22.000.000 đồng kèm theo đăng ký xe, K chia cho H2, H3 mỗi người được số tiền 7.000.000 đồng. Do trước đó, H2 có vay của K 10.000.000 đồng nên H2 nhất trí số tiền 7.000.000 đồng K chia cho H2 sẽ được trừ vào số tiền H2 nợ K.

Ngày 28/7/2024, chị L1 đã viết đơn trình báo sự việc với Công an xã H

Ngày 11/11/2024, Vũ Hồng K đến Công an huyện Ý đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô BKS 18D1-721.59 kèm đăng ký xe ông Thái Văn L2 bán cho anh Phạm Văn T1 trú tại xã T, huyện T với số tiền 24.200.000 đồng. Anh T1 bán lại cho anh Phạm Văn Đ2 với số tiền 25.000.000 đồng. Anh Phạm Văn Đ2 bán lại cho ông Phan Đình H1 với số tiền 26.700.000 đồng. Ông H1 có con là Phan Đình Đ1 bán lại cho ông Nguyễn Sao M với số tiền 27.800.000 đồng. Ngày 29/7/2024 ông Nguyễn Sao M đã tự nguyện giao nộp chiếc xe cùng đăng ký cho cơ quan Công an để phục vụ công tác điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/ĐGTS ngày 19/09/2024 kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda vision màu xanh đen, BKS 18D1 – 721.59 tại thời điểm xảy ra vụ việc có dấu hiệu trộm cắp ngày 12/7/2024 là 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng.

Ngày 14/11/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Vũ Hồng K về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phạm Văn H2 và nam thanh niên tên H3: Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý tiến hành xác minh, xác định Phạm Văn H2 đã chết vào ngày 04/9/2024 theo trích lục khai tử số 36/2024/TLKT ngày 13/11/2024 của UBND phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Ý không xem xét trách nhiệm. Đối với H3, ngoài lời khai của K, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý không có căn cứ để điều tra làm rõ. Đối với anh Phạm Văn Đ2, ông Thái Văn L2, anh Phạm Văn T1, ông Phan Đình H1, ông Nguyễn Sao M không biết chiếc xe mô tô trên do K trộm cắp mà có, do vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Ý không xem xét trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô BKS 18D1-721.59 cùng 01 đăng ký xe mô tô, quá trình điều tra Công an huyện Ý đã trả lại cho chị L1 theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Chị L1 đã nhận lại tài sản, được cấp lại căn cước công dân không yêu cầu K phải bồi thường; Ông Thái Văn L2 yêu cầu Vũ Hồng K phải trả lại ông số tiền 22.000.000 đồng là tiền mà bị cáo bán xe trộm cắp cho ông; Anh Phạm Văn T1 yêu cầu ông Thái Văn L2 trả lại cho anh số tiền 24.200.000 đồng, ông L2 đã trả lại cho anh T1 số tiền 12.000.000 đồng, còn lại số tiền 12.200.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 06/CT - VKS- YY ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Vũ Hồng Khanh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Hồng K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Nhất trí hoàn trả ông Thái Văn L2 số tiền 22.000.000 đồng là số tiền bán chiếc xe vision, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Hồng K từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 11/11/2024.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý tại Cơ quan Điều tra công an huyện Ý Yên nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết. Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự, buộc Vũ Hồng K phải có trách nhiệm trả cho ông Thái Văn L2 số tiền 22.000.000 đồng, bị cáo thu lời bất chính từ việc bán xe mô tô BKS 18D1-72159; buộc ông Thái Văn L2 phải có trách nhiệm hoàn lại cho anh Phạm Văn T1 số tiền 12.200.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; biên bản định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ ngày 12/7/2024 tại nhà chị Bùi Thị L1 ở thôn Q, xã H, huyện Ý, lợi dụng đêm tối, thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Vũ Hồng K có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô Honda Vision BKS 18D1-72159 có trị giá 26.000.000 đồng của chị Bùi Thị L1, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ, bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng xấu đến phong trào bảo vệ an ninh ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và vẫn cố ý thực hiện để có tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng pháp luật.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Vũ Hồng K, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về hành vi: Trộm cắp tài sản; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử xét thấy cần bị cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý tại giai đoạn điều tra, Hội đồng xét xử không quyết định gì thêm.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét sử không đề cập giải quyết.

Đối với yêu cầu của ông Thái Văn L2: Đề nghị giải quyết buộc bị cáo Vũ Hồng K phải trả số tiền 22.000.000 đồng mà ông trả cho K để mua xe mô tô BKS 18D1-72159. Ông L2 không biết chiếc xe nêu trên do bị cáo trộm cắp mà có, K trực tiếp nhận số tiền này từ ông L2 nên cần buộc bị cáo Vũ Hồng K phải trả lại cho ông L2 toàn bộ số tiền 22.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu của anh Phạm Văn T1: Anh T1 mua lại chiếc xe mô tô nêu trên của ông Thái Văn L2 với số tiền 24.200.000 đồng, ông L2 đã trả lại cho anh số tiền 12.000.000 đồng. Anh T1 yêu cầu ông L2 phải trả lại cho anh số tiền còn lại 12.200.000 đồng. Ông L2 có đơn nhất trí trả anh T1 số tiền còn lại 12.200.000 đồng. Do đó Ông L2 có trách nhiệm trả lại anh T1 số tiền 12.200.000 đồng là phù hợp.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, ông Thái Văn L2 phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 48, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 357, 468 của Bộ luật dân sự; các Điều 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng K 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 11/11/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc Vũ Hồng K phải hoàn trả cho ông Thái Văn L2 số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng là tiền bị cáo bán chiếc xe Honda vision BKS 18D1-72159 cho ông L2.

    Ông Thái Văn L2 có nghĩa vụ hoàn lại cho anh Phạm Văn T1 số tiền 12.200.000 (mười hai triệu hai trăm nghìn) đồng là tiền ông L2 bán chiếc xe honda vision BKS 18D1-72159 cho anh T1.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Hồng K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng; Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị cáo Vũ Hồng K phải nộp 1.100.000 đồng. Ông Thái Hồng L4 phải nộp 610.000 đồng.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh, huyện Ý Yên;
  • - Công an tỉnh Nam Định;
  • - T.H.A dân sự huyện Ý Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger