Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS - ST

Ngày: 26 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Xuân Thanh

Ông Lê Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST – HS ngày 17/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 13/2025/QĐXXST - HS ngày 13/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn N - sinh ngày 17/5/1992; Số CCCD: [...].

Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông Lê Văn H và bà Phạm Thị S (đã chết); vợ con: Chưa có; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 07/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 12/9/2023.

Nhân thân:

- Ngày 20/3/2009, bị TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2010, thi hành xong án phí HSST ngày 14/8/2009, hiện nay đã được xóa án tích.

- Ngày 13/11/2013, bị Chủ tịch UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 20/11/2015.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 30/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Sỹ A - sinh ngày 30/3/1994; SỐ CCCD: [...].

Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông Bùi Sỹ N1 và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Trương Thị Thu L và 02 con: con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 30/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Anh Lê Hồng N2 - sinh năm: 2005 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn U, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Phạm Thị T - sinh năm: 1995 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Văn H1 - sinh năm: 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09h00 ngày 24/10/2024, tại khu vực đường liên thôn thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về Hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lê Hồng N2 (sinh năm 2005, trú tại thôn U, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) có dấu hiệu liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra, tại chỗ thu giữ trong túi quần bên trái của Hồng N2 đang mặc 01 (một) gói giấy bạc kích thước khoảng (2x1)cm bên trong chứa chất rắn màu hồng (nghi là ma túy dạng hồng phiến). Tổ Công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành niêm phong tang vật (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M) và lập biên bản theo quy định.

Theo Lê Hồng N2 khai báo: Vào khoảng hơn 22 giờ ngày 23/10/2024, Lê Hồng N2 đang đi chơi ở thị trấn T, huyện Q thì nảy sinh ý định muốn sử dụng ma tuý hồng phiến. Hồng N2 mua của Bùi Sỹ A 10 viên ma túy hồng phiến với giá 1.800.000đ. Sau đó, Hồng N2 đã sử dụng hết khoảng 09 viên rưỡi, còn lại nửa viên Hồng N2 cất trong túi quần để sử dụng sau thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 4064/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn màu hồng trong phong bì niêm phong (ký hiệu M) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,044g (không phẩy không bốn bốn gam) loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng hơn 22 giờ ngày 23/10/2024, Lê Hồng N2 sử dụng số điện thoại 0705.287.xxx gọi vào số điện thoại 0945.231.xxx của Bùi Sỹ A hỏi mua 10 viên ma tuý hồng phiến, Sỹ A đồng ý. Do không có sẵn ma tuý nên Sỹ A hẹn lát nữa sẽ gọi điện lại báo giá cho Hồng N2 sau. Sau đó, Sỹ A gọi điện cho Lê Văn N hỏi mua 15 viên ma tuý hồng phiến, Văn N đồng ý và báo giá 170.000đ/ 1 viên ma tuý hồng phiến (tổng 15 viên giá 2.550.000đ). Lê Văn N bảo Sỹ A chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản Ngân hàng M1 số 0397796927 của Phạm Thị T (sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã Q, huyện Q, là người đang sống chung như vợ chồng với Lê Văn N). Sau khi hỏi mua được ma túy, Sỹ A gọi điện lại cho Hồng N2 báo giá bán là 180.000đ/ 1 viên ma túy hồng phiến (tổng 10 viên giá 1.800.000₫). Đồng thời, Sỹ A đòi nợ số tiền 1.200.000₫ mà Hồng N2 đã nợ tiền đi taxi của Sỹ A trước đó (tổng số tiền mà Hồng N2 phải trả cho Sỹ A là 3.000.000₫), Hồng N2 đồng ý. Sỹ Anh nhắn tài khoản Ngân hàng V số [...] của Sỹ A cho Hồng N2 chuyển tiền. Do không có tiền trong tài khoản Ngân hàng nên Hồng N2 đưa 3.000.000đ tiền mặt và nhờ bạn là Lê Văn H1 (sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã Q, huyện Q) chuyển tiền vào số tài khoản của Sỹ A (Hồng N2 không nói cho H1 biết mục đích chuyển tiền để mua ma tuý), H1 đồng ý chuyển khoản 3.000.000₫ đến tài khoản ngân hàng V số [...] của Sỹ A. Sau khi thấy có thông báo nhận tiền vào tài khoản, Sỹ A chuyển khoản số tiền 2.550.000đ vào tài khoản ngân hàng M1 số 0397796927 đứng tên Phạm Thị T để mua 15 viên hồng phiến của Lê Văn N như đã thoả thuận. Chuyển khoản xong, Sỹ A gọi điện báo cho Lê Văn N biết và cả hai hẹn gặp nhau tại gần ngã tư đường T giao với Quốc lộ A thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q để giao nhận ma túy. Lúc này, T đang ở cùng N, thấy có thông báo nhận tiền vào tài khoản, T nói với N: “có người chuyển tiền đến”, N nói: “bạn N trả nợ” nên T không hỏi thêm gì. Sau khi gọi điện cho N, Sỹ A đi từ nhà đến điểm hẹn chờ lấy ma túy. Đến khoảng 23h cùng ngày, Lê Văn N đến đưa cho Sỹ A một gói giấy bạc bên trong chứa 15 viên hồng phiến và rời đi. Sỹ Anh lấy ra 05 viên hồng phiến để riêng, còn 10 viên hồng phiến Sỹ Anh gói trong giấy bạc mang đến khu vực đường liên xã thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện Q đưa cho Lê Hồng N2. Sau đó, Sỹ A về nhà và một mình sử dụng hết 05 viên hồng phiến.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Sỹ A giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, gắn thẻ sim số 0945231636; và Lê Văn N giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu xanh tím gắn thẻ sim số 0369557194 và 0989046202 cho Cơ quan điều tra. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Sỹ A và Lê Văn N không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Về nguồn gốc ma túy, Lê Văn N đã khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 10/2024, Lê Văn N đã một mình đi lên Cầu vượt P, thành phố T gặp và mua được 15 viên hồng phiến của một người đàn ông (không biết rõ nhân thân lai lịch ở đâu) với số tiền là 160.000đ/ 1 viên (tổng 15 viên là 2.400.000₫).

Tại Cáo trạng số 12/CTr - VKSQX ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Lê Văn N, Bùi Sỹ A về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như cáo trạng đã nêu đồng thời đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án từ 33 tháng đến 36 tháng tù;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Sỹ A mức án từ 25 tháng đến 28 tháng tù;

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Truy thu của bị cáo Bùi Sỹ A số tiền 100.000₫ do phạm tội mà có.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.550.000₫ Lê Văn N bán ma túy mà có.

Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng, và buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 23/10/2024, tại khu vực ngã tư ngã tư đường T giao với QL A thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, Lê Văn N đã có hành vi bán trái phép 15 viên hồng phiến (loại Methamphetamine) với giá 2.550.000đ cho Bùi Sỹ A.

Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, tại khu vực đường liên xã thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa Bùi Sỹ A đã có hành vi bán trái phép 10 viên hồng phiến (loại Methamphetamine) với giá 1.800.000₫ cho Lê Hồng N2 để sử dụng.

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây các bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi bán trái phép chất ma túy của các bị cáo Lê Văn N, Bùi Sỹ A có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội độc lập, không có tính chất đồng phạm. Xét hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả rất nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, bị cáo hiểu rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Văn N, Bùi Sỹ A đều không có tình tiết tăng nặng TNHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Riêng bị cáo Bùi Sỹ A từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đoàn BB2 - Trung đoàn BB1 - Sư đoàn 32D1 (từ tháng 9/2012 đến tháng 01/2014), và có nhiều đóng góp trong việc ủng hộ Quỹ vì người nghèo của địa phương nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam.

- Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn N có nhân thân xấu (Năm 2009, bị TAND huyện Quảng Xương xử phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Năm 2013, bị Chủ Tịch UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa quyết định đưa người vào cơ sở chữa bệnh), và hiện đang có tiền sự. Bị cáo Bùi Sỹ A chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần xem xét, xử phạt bị cáo N có mức hình phạt cao hơn bị cáo Sỹ A là phù hợp. Xét thấy các bị cáo đều phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định có trọng lượng 0.027 gam và vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì, đều được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Lê Đình N3, Đàm Đình D và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T;

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, gắn thẻ sim số 0945231636 của Bùi Sỹ A; và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu xanh tím, gắn thẻ sim số 0369557194 và 0989046202 của Lê Văn N là công cụ phạm tội.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.550.000đ (Phạm Thị T đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra) là tiền mà Lê Văn N bán ma túy cho Bùi Sỹ A mà có.

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là tiền Bùi Sỹ A được hưởng lợi từ bán ma túy cho Lê Hồng N2 mà có.

[7] Các tình tiết khác của vụ án:

- Đối với Lê Hồng N2 là người mua ma túy của Bùi Sỹ A mục đích để sử dụng, nhưng khối lượng ma túy N2 tàng trữ theo kết luận giám định là 0,044g, loại Methamphetamine, nên không đủ để xử lý Lê Hồng N2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với Lê Hồng N2 là phù hợp.

- Đối với chiếc điện thoại mà Lê Hồng N2 dùng để liên lạc mua ma túy của Bùi Sỹ A để sử dụng, ngay sau đó Lê Hồng N2 làm mất điện thoại nên cơ quan công an không thu giữ được.

- Đối với Phạm Thị T nhận tiền chuyển khoản tiền mua ma túy từ Bùi Sỹ A. T không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy của Lê Văn N nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Văn N ở khu vực cầu vượt P, thành phố T vào khoảng đầu tháng 10/2024, do N không biết nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của N thì không có tài liệu, chứng cứ khác, nên không đủ căn cứ để xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS 2015 đối với bị cáo Lê Văn N;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS 2015 đối với bị cáo Bùi Sỹ A;

Khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, b khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N và bị cáo Bùi Sỹ A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/10/2024.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Sỹ A 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/10/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định có trọng lượng 0.027 gam và vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì, đều được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Lê Đình N3, Đàm Đình D và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T;

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, gắn thẻ sim số 0945231636 của Bùi Sỹ A; và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu xanh tím, gắn thẻ sim số 0369557194 và 0989046202 của Lê Văn N.

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025)

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.550.000đ hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số 0000998 ngày 06/02/2025.

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là tiền Bùi Sỹ A bán ma túy cho Lê Hồng N2 mà có.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lê Văn N, Bùi Sỹ A mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND H Quảng Xương;

- THADS huyện Quảng Xương;

- Công an huyện Quảng Xương;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS - ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 11/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger