|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày: 25/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Vũ Hải Dương.
Hội thẩm nhân dân: Ông: Bùi Hữu Thành; Bà: Nguyễn Thanh Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà: Đỗ Thị Thanh Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông: Đàm Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo:
1.1. Họ và tên: Nguyễn Công M, sinh ngày 01/06/2003; tại: C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Công H, sinh năm 1979 và con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; vợ, con: không.
Tiền sự: Không; Tiền án: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2024 đến ngày 09/01/2025. (Có mặt tại phiên tòa).
1.2. Họ và tên: Nguyễn Công A, sinh ngày 17/05/2005; tại: C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Công H1, sinh năm 1982 và con bà: Hà Thị H2, sinh năm 1986; vợ, con: không.
Tiền sự: Không; Tiền án: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2024 đến ngày 09/01/2025. (Có mặt tại phiên tòa).
1.3. Họ và tên: Trần Đức T, sinh ngày 09/6/1982; tại: C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N, sinh năm 1956
1
và con bà: Hà Thị T1, sinh năm 1959; vợ: Hà Thị H3, sinh năm 1989, con: có 02, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009.
Tiền sự: Không; Tiền án: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến ngày 12/12/2024. (Có mặt tại phiên tòa).
1.4. Họ và tên: Nguyễn Công T2, sinh ngày 04/12/2004; tại: C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Công T3, sinh năm 1982 và con bà: Hà Thị T4, sinh năm 1985; vợ, con: không.
Tiền sự: Không; Tiền án: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến ngày 12/12/2024. (Có mặt tại phiên tòa).
1.5. Họ và tên: Nguyễn Duy C, sinh ngày 20/7/2000; tại: C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu Đ, xã T (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Duy T5, sinh năm 1979 và con bà: Trần Thị T6, sinh năm 1981; vợ: Trần Thu H4, sinh năm 2005, con: có 01 con, sinh năm 2023.
Tiền sự: Không; Tiền án: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến ngày 12/12/2024. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Bị hại: Ông Bùi Văn B, sinh năm 1971. (Có mặt tại phiên tòa).
Trú tại: thôn N, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Công T7, sinh năm 1991. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Hà Thị H3, sinh năm 1989. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Hoàng Trung T8, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
Trú tại: xóm K, thị trấn N, H, Cao Bằng.
4. Người làm chứng:
- Anh Bùi Văn P, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn N, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Dương Thị T9, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
Trú tại: khu T, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Hà Công H5, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
Trú tại: khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
5. Người chứng kiến:
Ông: Quách Ngọc H6, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn N, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công A; Nguyễn Công M; Trần Đức T; Nguyễn Duy C (Là lái xe thuê cho nhà Nguyễn Công A, nhận lương hàng tháng); Nguyễn Công T2 cùng trú tại khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ có mối quan hệ quen biết, họ hàng, thân thiết và cùng nhau làm nghề mua, bán lợn giống tại địa phương.
Cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 2024, trong quá trình làm ăn, do ham lợi nhuận cao, các đối tượng M, A, T, T2, C bàn với nhau đưa thông tin lên mạng xã hội là có nguồn lợn giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, của công ty U, đảm bảo về kiểm dịch để tìm khách có nhu cầu. Nếu tìm được khách chốt đơn, nhóm sẽ tìm, thu mua lợn giống không rõ nguồn gốc xuất xứ, không được kiểm định, hoặc lợn bị ốm bệnh với giá rẻ để bán được giá cao, thu lời bất chính. Để tạo lòng tin cho khách hàng, các đối tượng cam kết là lợn rõ về nguồn gốc xuất xứ từ các trang trại chăn nuôi (thực tế là đưa ra thông tin về các trang trại không có thật), đã được tiêm phòng đầy đủ và bảo hành bệnh dịch tả lợn châu phi bằng cách làm các giấy tờ có đóng dấu đỏ ghi nội dung "CÔNG TY HEO GIỐNG C.P.GROUP" (là Công ty không có thật) để người dân nhầm lẫn, tin tưởng đó là lợn có nguồn gốc xuất xứ từ Công ty Cổ phần C3 (là Công ty có thật).
Với cách thức đó, Nguyễn Công M sử dụng tài khoản Facebook có tên là “Minh A1” đăng tải hình ảnh, video và các bài viết lên mạng xã hội với nội dung rao bán lợn giống chất lượng, có giấy tờ bảo hành kèm theo để tìm kiếm khách hàng.
Ngày 01/10/2024 ông Bùi Văn B sử dụng tài khoản Facebook có tên “Xuân B1” nhắn tin với tài khoản “Minh A1” và liên lạc với số điện thoại 0868.540.xxx của Nguyễn Công M thỏa thuận mua 25 con lợn giống thương phẩm giá 1.300.000đ/con và 10 con lợn giống hậu bị giá 2.400.000đ/con tổng là 35 con trọng lượng từ 13-15kg/con với tổng số tiền là 56.500.000đ (Năm mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng), hẹn sáng ngày 03/10/2024 sẽ giao lợn và thanh toán tiền.
Sau khi chốt được đơn hàng với ông B1, Nguyễn Công M báo lại cho Nguyễn Công A để tìm nguồn lợn. Do cùng làm nghề buôn lợn, Nguyễn Công A biết nhà anh Hà Công H5, có đàn 38 con lợn muốn bán. Đây là đàn lợn anh H5 thu mua gom của người dân từ trước đó với giá 700.000đ/1 con, là lợn không có nguồn gốc rõ ràng, chưa qua kiểm dịch. Sau khi đến tìm hiểu, bằng kinh nghiệm của mình, Công A biết đàn lợn của anh H5 không được khỏe, có con có biểu hiện ốm bệnh, nên đã hỏi mua với giá 850.000đ/1 con thì được anh H5 nhất trí bán.
Ngày 02/10/2024, Nguyễn Công A báo cho Trần Đức T và cùng đến bắt lợn chở về thả vào chuồng nhà Công A. Sau đó T gọi điện cho Nguyễn Công T2 và Công A gọi điện thoại cho Nguyễn Duy C để hẹn T2 và C đi giao số lợn trên cho ông B1 theo thỏa thuận. Công Anh và T còn dặn T2, C là nếu ông B1 có hỏi trang trại lợn ở đâu thì nói trang trại lợn ở C, Hà Nội.
Khoảng 01 giờ ngày 03/10/2024, Nguyễn Duy C, Trần Đức T, Nguyễn Công T2 đến nhà Nguyễn Công A dùng kìm bấm đeo các mã số tự nhiên vào tai của 10 con lợn để đánh dấu là lợn hậu bị theo đơn hàng ông B1 đặt mua (việc bấm các mã số vào tai lợn nhằm mục đích làm cho giống với lợn của các trang trại có uy tín). Sau đó các
3
đối tượng bắt 38 con lợn cho lên xe ô tô tải BKS: 11C-058.84, T đưa cho C 5.000.000 đồng tiền mặt để đi đường, Công A viết đầy đủ thông tin trên 01 Phiếu cân heo; 01 Phụ lục bảo hành dịch tả Châu Phi; 01 phiếu tiêm vắc xin tất cả đều đóng dấu đỏ hình vuông có ghi “CÔNG TY HEO GIỐNG C.P.GROUP” là các giấy tờ về nguồn gốc, xuất xứ, về bảo hành dịch bệnh đưa cho T2 và C mang theo để đưa cho ông B1 nhằm mục đích tạo sự tin tưởng.
Sau đó C điều khiển xe ô tô BKS: 11C-058.84, còn T2 ngồi bên ghế phụ chở 38 con lợn đi theo địa chỉ Công Anh gửi vị trí nhà của ông Bùi Văn B, đến khoảng 05 giờ 00 sáng cùng ngày thì đến cổng nhà ông B tại thôn N, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Sau khi cho ông B kiểm tra lợn, T2 và C đưa các giấy tờ gồm 01 Phụ lục bảo hành dịch tả Châu Phi; 01 phiếu tiêm vắc xin tất cả đều đóng dấu đỏ hình vuông bên trong dấu có ghi “CÔNG TY HEO GIỐNG C.P.GROUP” là các giấy tờ giả về nguồn gốc, xuất xứ, về bảo hành dịch bệnh cho ông B xem và tiến hành thu tiền. Ông B đưa cho T2 số tiền 13.000.000 đồng tiền mặt và nhờ anh Bùi Văn P (là cháu của ông B) chuyển khoản vào số tài khoản do T2 cung cấp số tiền 2.000.000 đồng. Khi ông B đang chuẩn bị chuyển khoản, thanh toán nốt số tiền còn lại theo thỏa thuận cho T2 thì Tổ công tác Công an huyện L, phối hợp cùng các lực lượng liên quan tiến hành kiểm tra, lập biên bản thu mẫu máu xét nghiệm bệnh dịch truyền nhiễm đối với toàn bộ đàn lợn trên, đồng thời đưa toàn bộ các đối tượng, vật chứng của vụ việc về trụ sở Công an huyện L để làm việc.
Ngày 04/10/2024, Nguyễn Duy C và Nguyễn Công T2 đầu thú và khai nhận, mặc dù biết số lợn giống bán cho ông B là lợn dịch bệnh, không có nguồn gốc rõ ràng, tuy nhiên các đối tượng đưa ra các thông tin như lợn có nguồn gốc rõ ràng, cam đoan cam kết bảo hành khi bị dịch bệnh và làm các giấy tờ giả có đóng dấu đỏ giả nội dung "CÔNG TY HEO GIỐNG C.P.GROUP" để người dân tin đó là lợn có nguồn gốc từ Công ty Cổ phần C3 nhằm chiếm đoạt số tiền 56.500.000 đồng.
Ngày 04/10/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện L ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Đức T để điều tra về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trần Đức T khai nhận hành vi của bản thân và có đơn tố cáo các đối tượng khác cùng thực hiện hành vi phạm tội với mình trong vụ án.
Ngày 02/11/2024, các đối tượng Nguyễn Công M và Nguyễn Công A đến Công an huyện L xin đầu thú.
* Vật chứng thu giữ của vụ án :
- 01 (Một) ô tô tải nhãn hiệu Huyndai màu xanh; BKS 11C-05884 (Là xe do Nguyễn Duy C điều khiển để chở lợn cho ông Bùi Văn B).
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu titan thu giữ của Trần Đức T;
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu trắng thu giữ của Nguyễn Công T2;
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím thu giữ của Nguyễn Duy C;
4
- Số tiền 13.000.000đ thu giữ của Nguyễn Công T2 là tiền bán lợn mà ông Bùi Văn B đã thanh toán;
- Số tiền 5.000.000đ thu giữ của Nguyễn Duy C là Trần Đức T đưa cho C để chi dùng trong quá trình đi chuyển lợn cho ông Bùi Văn B;
- 01 (một) phiếu cân heo; 01 (một) phụ lục bảo hành dịch tả Châu Phi; 01 (một) phiếu tiêm vắc – xin đều có đóng dấu đỏ ghi “Công ty H7”;
- 38 (ba mươi tám) con lợn không rõ nguồn gốc là số lợn Nguyễn Duy C và Nguyễn Công T2 mang tới giao cho ông Bùi Văn B;
- 01 USB màu vàng có chứa các file ghi âm do ông Bùi Văn B cung cấp liên quan đến việc giao dịch mua bán lợn với Nguyễn Công M.
Ngày 03/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ban hành quyết định trưng cầu giám định đối với Trung tâm C4 – Cục T10 về các mẫu máu thu được từ đàn lợn do Nguyễn Công T2 và Nguyễn Duy C chuyển cho ông Bùi Văn B. Bằng phương pháp thu gộp mẫu máu đàn lợn thành 07 mẫu. Tại Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm số 7308/CĐ-XN ngày 03/10/2024, Trung tâm C4 xác định: kết quả xét nghiệm cho thấy có 04/07 mẫu máu gửi giám định dương tính với Vi rút dịch tả lợn C1 phi.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan điều tra làm việc với Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện L xác định: đàn lợn 38 con nuôi nhốt chung trong đó có số lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh có khả năng lây bệnh cho cả đàn và có thể lây bệnh trên diện rộng trên địa bàn. Căn cứ Luật thú y năm 2015 và các quy định phòng chống dịch bệnh động vật trên cạn, buộc phải tiêu hủy toàn bộ 38 con lợn.
Căn cứ kết quả xét nghiệm và các quy định về phòng chống dịch bệnh động vật, ngày 04/10/2024, các cơ quan có thẩm quyền đã phối hợp để tiêu hủy đàn lợn 38 con trên.
Kết quả xác minh tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh H như sau: Qua kiểm tra trên hệ thống doanh nghiệp Q không tồn tại tên Công ty H7 giống C.P.GROUP. Công ty H7 giống C.P.GROUP không có thật nên hành vi của các bị cáo M, A, T, T2, C không đủ yếu tố cấu thành tội: sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Đối với anh Hà Công H5, sinh năm 1990, trú tại Khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ, là người bán đàn lợn cho Nguyễn Công A ngày 02/10/2024, quá trình điều tra xác định: Hà Công H5 làm nghề mua bán lợn tại địa phương, đàn lợn trên H5 mua gom từ người dân từ nhiều nơi khác nhau, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không được kiểm dịch với giá 700.000đ/con. Khi Nguyễn Công A đến đặt vấn đề mua lại đàn lợn trên thì H5 đồng ý bán lại với giá 850.000đ/con, 2 bên không làm hợp đồng hay thủ tục gì. Sau đó, Nguyễn Công A và Trần Đức T đến bắt và cùng H5 chuyển đàn lợn trên về chuồng của nhà Công A. H5 không rõ lợn có bị bệnh hay không và cũng không biết Công A và T bán đàn lợn cho ai, làm gì, giá cả ra sao.
Đối với chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai màu xanh, BKS 11C-05884, quá trình điều tra, truy tố xác định: Chiếc xe trên đăng ký xe mang tên anh Hoàng Trung T8, có địa chỉ tại K, thị trấn N, H, Cao Bằng. Năm 2022, anh T8 bán lại chiếc xe trên cho anh Hà Công T7, sinh năm 1991, trú tại Khu Đ - C - Phú Thọ nhưng hai bên chỉ viết giấy mua bán, không công chứng và chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Đến năm
5
2024, anh Hà Công T7 bán lại chiếc xe trên cho chị gái ruột là Hà Thị H3, sinh năm 1989, trú tại Khu Đ - C - Phú Thọ (là vợ của Trần Đức T). Hai bên chỉ chuyển giao tiền và xe, không làm hợp đồng mua bán, sang tên. Chị H3 sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để buôn bán hàng ngày. Ngày 03/10/2024, Trần Đức T mang xe trên giao cho Nguyễn Duy C để chở đàn lợn giao cho ông Bùi Văn B, chị H3 không biết, không liên quan. Chiếc xe trên, chị H3 tự mình vay tiền bố mẹ đẻ là ông Hà Công C2 và bà Trần Thị O để trả cho anh Hà Công T7, Trần Đức T không có đóng góp gì vào việc mua xe. Chiếc xe là tài sản riêng và là phương tiện để chị H3 chở hàng, buôn bán hằng ngày.
Ngày 18/02/2024, chị Hà Thị H3 có đơn xin lại tài sản là chiếc xe ô tô tải BKS 11C- 05884. Xác định chiếc xe trên không phải là vật chứng trực tiếp của vụ án, là tài sản riêng, hợp pháp của chị Hà Thị H3, là phương tiện chính phục vụ buôn bán, kiếm sống hằng ngày của gia đình chị H3, ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy ra quyết định trả lại cho chị Hà Thị H3 tài sản trên.
Ngày 12/12/2024, Trần Đức T, Nguyễn Duy C, Nguyễn Công T2, Nguyễn Công A, Nguyễn Công M đã tác động gia đình, nhờ chị Hà Thị H3 (vợ của Trần Đức T), đến xin lỗi và tự nguyện bồi thường cho người bị hại là ông Bùi Văn B số tiền bị thiệt hại do mất thu nhập từ việc phải tạm dừng chăn nuôi để khử trùng truồng trại với số tiền là 15.000.000 đồng. Ông Bùi Văn B đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo trong vụ án.
Cáo trạng số: 17/CT-VKSLT ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện L truy tố Nguyễn Công M, Nguyễn Công A, Trần Đức T, Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự (BLHS).
* Tại phiên tòa:
- Đại diện VKSND trình bày bản luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
+ Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Công A từ 27 tháng đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo.
+ Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C, Trần Đức T từ 24 tháng đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo.
+ Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản.
+ Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã thống nhất bồi thường cho ông Bùi Văn B số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, đề nghị gì về số tiền đã bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
+ Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1,2 Điều 47 BLHS; khoản 1,2 Điều 106 Bộ luật TTHS;
Tịch thu, phát mại, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu titan thu giữ của Trần Đức T; 01 (Một) điện thoại di
6
động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu trắng thu giữ của Nguyễn Công T2; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím thu giữ của Nguyễn Duy C.
Chuyển lưu hồ sơ vụ án đối với 01 USB màu vàng có chứa các file ghi âm do ông Bùi Văn B cung cấp liên quan đến việc giao dịch mua bán lợn với Nguyễn Công M.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 5.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Duy C.
Trả lại số tiền 13.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Công T2 và 2.000.000 đồng thu giữ của Trần Đức T cho ông Bùi Văn B.
+ Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, nhất trí với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Bị hại ông B nhất trí với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Công A, Trần Đức T, Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C thấy ăn năn hối lỗi, nhận thức hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT - Công an huyện L (Nay là CQCSĐT công an tỉnh H), Điều tra viên, VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Từ cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 2024, qua tìm hiểu trên mạng xã hội Nguyễn Công A, Nguyễn Công M, Trần Đức T, Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C đã bàn bạc và đăng bài lên mạng xã hội đưa thông tin gian dối có nguồn lợn giống có nguồn gốc rõ ràng từ công ty U, được kiểm dịch để tìm khách. Sau khi có khách chốt đơn, các bị cáo chuẩn bị giấy tờ giả để tạo niềm tin khi giao hàng cho khách mục đích chiếm đoạt tài sản của khách, kiếm lời, chia nhau. Bằng thủ đoạn trên: Nguyễn Công M đã đưa ra thông tin gian dối với ông Bùi Văn B là có nguồn lợn giống ở trang trại uy tín, lợn khỏe mạnh, không mắc bệnh, có cam kết sẽ bảo hành nếu phát hiện lợn bị
7
ốm bệnh. Sau khi ông B đồng ý mua lợn thì M đã cùng Trần Đức T, Nguyễn Công T2 đi mua lợn không có nguồn gốc rõ ràng, không qua kiểm dịch, là lợn bệnh với giá rẻ; Nguyễn Công A chuẩn bị các giấy tờ giả đưa cho T2, Nguyễn Duy C để chở 35 con lợn giống giao cho ông B với mục đích chiếm đoạt của ông B số tiền 56.500.000 đồng (Năm mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Vào khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 03/10/2024, trong khi các bên đang giao tiền tại nhà ông B tại thôn N, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an huyện L bắt quả tang và thu giữ vật chứng của vụ án.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 2 Điều 174 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Lạc Thủy truy tố các bị cáo về tội danh tương ứng như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ.
[4] Về vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo:
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng bàn bạc và thực hiện hành vi phạm tội, trong đó: Nguyễn Công M là người đăng tin trên mạng xã hội với thông tin giả để tìm khách, chốt đơn; Nguyễn Công A có vai trò chuẩn bị giấy tờ giả, tìm mua nguồn lợn không rõ nguồn gốc, bị bệnh, giá rẻ để bán; Trần Đức T tham gia cùng Nguyễn Công A đi mua lợn, đánh khuyên phân loại lợn, cung cấp xe chở lợn và đưa tiền chi phí cho việc chở lợn; Nguyễn Công T2 và Nguyễn Duy C tham gia vận chuyển lợn tới khách hàng và thu tiền.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đều tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo T2, C, T sau khi bị phát hiện hành vi vi phạm đã có đơn tố cáo các đồng phạm giúp cơ quan điều tra nhanh chóng điều tra, phát hiện tội phạm; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; Bị cáo T2, C, M, Anh sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bị cáo C và thân nhân được tặng thưởng giấy khen trong quá trình lao động đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
8
[6] Về hình phạt:
Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức được sai phạm và có khả năng tự cải tạo, không có tình tiết tăng nặng nên HĐXX xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về dân sự:
Ông Bùi Văn B đã nhận được số tiền 15.000.000 đồng do gia đình các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho việc chi phí khử trùng chuồng, trại; tiền mất thu nhập từ chăn nuôi. Bị hại, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, đề nghị gì thêm về dân sự, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng:
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng đã thu giữ là có căn cứ nên chấp nhận.
Đối với chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai màu xanh, BKS 11C-05884, quá trình điều tra, truy tố xác định: Chiếc xe trên không phải là vật chứng trực tiếp của vụ án, là tài sản riêng, hợp pháp của chị Hà Thị H3, là phương tiện chính phục vụ buôn bán, kiếm sống hằng ngày của gia đình chị H3. Ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy ra quyết định trả lại cho chị Hà Thị H3 tài sản trên. HĐXX xét thấy VKSND huyện Lạc Thủy trả lại xe cho chị H3 là phù hợp.
[10] Về các nội dung khác của vụ án:
Công ty H7 giống C.P.GROUP là công ty không có thật nên CQ CSĐT Công an huyện L không khởi tố các bị cáo về tội: sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là có căn cứ.
Đối với anh Hà Công H5, là người bán đàn lợn cho Nguyễn Công A ngày 02/10/2024, quá trình điều tra xác định: Hà Công H5 làm nghề mua bán lợn tại địa phương, đàn lợn trên H5 mua gom từ người dân từ nhiều nơi khác nhau, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không được kiểm dịch. Việc H5 trao đổi mua bán với A, T là giao dịch dân sự ngay tình, hợp pháp. H5 không biết A, T bán đàn lợn cho ai, làm gì, giá cả ra sao, nên hành vi của H5 không có tính đồng phạm với hành vi của các bị cáo M, A, T2, T, C nên CQ ĐT Công an huyện L không đề cập xử lý, HĐXX thấy là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với chị Hà Thị H3 là chủ sở hữu của xe ô tô tải BKS 11C- 05884. Vào ngày 03/10/2024 T đã lấy xe ô tô tải BKS 11C- 05884 giao cho C dùng làm phương tiện chở lợn cho ông B, chị H3 không biết, không liên quan đến hành vi của các bị cáo,
9
CQĐT Công an huyện L không đề cập xử lý, HĐXX thấy là phù hợp quy định của pháp luật.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại điều 331; 333 Bộ luật TTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Công M, Nguyễn Công A, Trần Đức T, Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+ Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo: Nguyễn Công M, Nguyễn Công A 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt:
- Bị cáo Trần Đức T 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Công A, Trần Đức T, Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C cho Ủy ban nhân dân xã xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự cấp tỉnh thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu titan thu giữ của Trần Đức T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu trắng thu giữ của Nguyễn Công T2; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím thu giữ của Nguyễn Duy C.
Chuyển lưu hồ sơ vụ án đối với 01 USB màu vàng có chứa các file ghi âm do ông Bùi Văn B cung cấp liên quan đến việc giao dịch mua bán lợn với Nguyễn Công M.
(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/2/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)
10
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 5.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Duy C.
Trả lại số tiền 13.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Công T2 và 2.000.000 đồng thu giữ của Trần Đức T cho ông Bùi Văn B.
(Biên lai thu tiền số 0001261 ngày 27/2/2025, số 0001227 ngày 28/2/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật TTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Công A, Trần Đức T, Nguyễn Công T2, Nguyễn Duy C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Vũ Hải Dương |
11
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Bùi Hữu Thành |
Nguyễn Thanh Loan |
Vũ Hải Dương |
12
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M cùng đồng phạm Lừa đảo chiểm đoạt tài sản
