Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIÊN HẢI

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nghi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Quốc Việt
  2. Ông Đặng Tùng Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Võ Tài Đức là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nhã Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 05/6/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Danh Đ, sinh năm 2000 tại A - Kiên Giang.
  2. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo; không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh C, sinh năm 1979 (Chết) và bà Thị H, sinh năm 1977; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/9/2024.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Lê Minh T, sinh năm 1989 tại T - Bình Dương.
  4. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo; không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R, sinh năm 1960 (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; có vợ tên Trần Thị Hồng T1 (đã ly hôn) và 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/02/2025.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Nguyễn Minh T2, sinh năm 1999 tại T - Đồng Nai.
  2. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo; không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1967 và bà Hà Thị Xuân H1, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/02/2025.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Võ Hoàng E, sinh năm 1963 ( Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

  1. Khách Thanh H2, sinh năm 2004 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  3. Nguyễn Văn P, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  5. Nguyễn Thanh V, sinh năm 1995 (vắng mặt).
  6. Địa chỉ: Số C, khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

  7. Trần Ngọc T4, sinh năm 1981 (vắng mặt).
  8. Địa chỉ: Số C P, phường C, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 16/9/2024, G cào đôi Ngọc D mang biển kiểm soát KG 91164TS, đang neo đậu tại vùng biễn xã N, huyện K, tỉnh Kiên Giang, các ngư phủ trên ghe có tổ chức nhậu thì giữa Võ Hoàng E và nhóm của D1 Đệ xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại. Hoàng E chửi mọi người thì có Danh Đ và Nguyễn Minh T2 dùng tay đánh vào mặt Võ Hoàng E, Võ Hoàng E tức giận lấy 03 cây dao thái lan cán vàng đâm trúng vào bên hông trái của Nguyễn Minh T2 gây thương tích cho T2 là 2,97%. Nên T2 và Đ xông đến chụp lấy tay cầm dao của Võ Hoàng E dẫn đến tay của T2 và Đ bị trầy, xước. Danh Đ dùng tay đánh vào mặt Hoàng E một cái, rồi quay sang lấy 01 cây dao yếm bằng kim loại đang để chổ nhậu chém 02 nhát trúng vào vùng cằm của Hoàng E gây thương tích 18,7%, khi bị chém Hoàng E giơ tay đở, nên bị dao của Đ chém trúng vào cẳng tay trái gây thương tích 02%. Lúc này, Lê Minh T dùng tay phải cầm lấy 01 cây dao thái lan cán vàng đâm, gạch nhiều nhát vào lưng của Hoàng E gây thương tích 11,42%. Hoàng E té xuống ca bin tầng 2 Nguyễn Minh T2 sau khi bị đâm thì lấy 01 cây dao thái lan cán vàng (trong 3 cây dao tước trên tay Hoàng E) xuống kề sát vào cổ Hoàng E và dọa cắt cổ cho hả giận nên gây ra thương tích cho Hoàng E 04%. Khi thấy Hoàng E chảy nhiều máu ở cằm nên T2 buông ra và cùng mọi người kêu tài công chở Hoàng E đi cấp cứu. Các bị cáo đã cố ý cùng nhau gây ra thương tích cho Võ Hoàng E với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại qua giám định là 32%.

Tại Cơ quan Điều tra, Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 đã thừa nhận hành vi đánh gây thương tích cho Võ Hoàng E. Danh Đ dùng tay đánh Hoàng E khi Hoàng E chửi H2, khi can ngăn Hoàng E đâm T2 thì bị dao đâm trúng tay nên tức giận dùng dao chém Hoàng E trúng cằm và cẳng tay trái. Lê Minh T muốn bênh vực T2 mới dùng dao đâm, gạch vào lưng của Hoàng E gây thương tích. Nguyễn Minh T2 do bị Hoàng E dùng dao đâm trúng nên tức giận dùng dao kề vào cổ Hoàng E cho hả giận nên gây ra thương tích cho Hoàng E.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 631/KLTTCT-PY ngày 24/9/2024 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh K kết luận Võ Hoàng E:

  1. Các kết quả chính:
    • - Kết quả khám giám định:
      • + Vết thương vùng (mặt) cằm phải (2 vết), gãy xương hàm dưới bên phải.
      • + Sẹo phần mềm vùng cổ phải, lưng phải (6 vết) và cẳng tay trái.
    • - Kết quả cận lâm sàng: Gãy xương hàm dưới bên phải.
  2. Kết luận:
    • 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Hoàng E tại thời điểm giám định là 32% (ba mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    • 2.2. Vật gây thương tích: Vật có góc, cạnh sắc.
    • 2.3. Về thời điểm hình thành thương tích: Các thương tích ở vùng (mặt) cằm phải (2 vết), cổ phải, lưng phải (6 vết) và cẳng tay trái phù hợp với thời điểm xảy ra ngày 16/9/2024.

(Bút lục số: 29-32)

* Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 649/KLTTCT-PY ngày 02/10/2024 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh K kết luận Võ Hoàng E:

  1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên hiện tại ở:
    • - Vùng mặt (cằm phải):
      • + Vết 1: 06% (sáu phần trăm).
      • + Vết 2: 06% (sáu phần trăm).
      • + Gãy xương hàm dưới bên phải: 08% (tám phần trăm).
    • - Vùng cổ phải: 04% (bốn phần trăm).
    • - Vùng lưng phải là:
      • + Vết 1: 02% (hai phần trăm).
      • + Vết 2: 03% (ba phần trăm).
      • + Vết 3: 02% (hai phần trăm).
      • + Vết 4: 01% (một phần trăm).
      • + Vết 5: 02% (hai phần trăm).
      • + Vết 6: 02% (hai phần trăm).
    • - Vùng cẳng tay trái là 02% (hai phần trăm).
  2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở vùng:
    • - Mặt (cằm phải) là: 18,70% (mười tám phẩy bảy mươi phần trăm).
    • - Cổ phải là: 04% (bốn phần trăm).
    • - Lưng phải là: 11,42% (mười một phẩy bốn mươi hai phần trăm).
    • - Cẳng tay trái là: 02% (hai phần trăm.

(Bút lục số 33-34).

* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 660/KLTTCT-PY ngày 09/10/2024 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh K kết luận Nguyễn Minh T2:

  1. Các kết quả chính:

    Sẹo phần mềm vùng hông – sườn trái (vết 1, 2, 3) và ngón V tay trái.

  2. Kết luận:
    • 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh T2 tại thời điểm giám định là 04% (bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    • 2.2. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:
      • - Vùng hông sườn trái (vết 1, 2, 3) là: 2,97% (hai phẩy chín mươi bảy phần trăm).
      • - Ngón V tay trái là: 01% (một phần trăm).
    • 2.3. Vật gây thương tích: Vật có góc, cạnh sắc.

* Vật chứng trong vụ án:

  • - 04 (bốn) cây dao thái lan cán vàng, đã qua sử dụng, mỗi cây dài 20,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 10,5cm có mũi nhọn; cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm; trong đó có 01 cây có quấn dây lưới màu xanh, đỏ;
  • - 01 (một) cây dao bằng kim loại, đã qua sử dụng dài 33,5cm, lưỡi dao dài 22cm, rộng 5,5cm; cán dài 11,5cm hình ô van rổng ruột.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-KH ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải truy tố các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Danh Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17; 58, 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Không.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17; 58, 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ theo quy định của pháp luật các điều 584; 585; 590 về trách nhiệm bồi thường dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận tự nguyện bồi thường của các bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên xử tịch thu tiêu hủy số vật chứng đã thu giữ nêu trên.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

* Xử lý khác:

  • - Đối với Võ Hoàng E có hành vi dùng dao đâm Nguyễn Minh T2 thương tích 04%, thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu nhưng do T2 không có yêu cầu khởi tố đối với Võ Hoàng E, nên Cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Hoàng E là phù hợp. (BL số: 154)
  • - Đối với Khách Thanh Hòa khi Võ Hoàng E dùng dao đâm T2 thì H2 dùng tay đánh Võ Hoàng E một cái vào mặt để trấn áp lấy hung khí, không cho đánh nhau, khi T2 và Đ lấy được hung khí thì H2 không tham gia nữa, hành vi không gây ra thương tích, Võ Hoàng E không có yêu cầu, nên Cơ quan công an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. (BL số 98)

Tại phiên tòa các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 thống nhất quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải.

Lời nói sau cùng của bị cáo Danh Đ: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Minh T: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình, nuôi dạy con nhỏ.

Lời nói sau cùng của bị cáo Danh Đ: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo, bị hại, người làm chứng kết hợp vật chứng thu giữ, dấu vết để lại trên người Võ Hoàng E, Nguyễn Minh T2; có thể khẳng định được các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 là người đã gây ra thương tích cho Võ Hoàng E.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, thể hiện thái độ bốc đồng, liều lĩnh có rượu bia trong người thiếu kiềm chế đã sử dụng nhiều hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác thể hiện sự xem thường pháp luật nhà nước.

Bị cáo Đ có vai trò quyết định hơn, tính chất mức độ nguy hiểm hơn các bị cáo khác. Trong lúc nhậu giữa bị cáo và bị hại đã có mẫu thuẫn cự cãi qua lại, bị cáo đã đánh bị hại bằng tay không, sau đó bị cáo T2 cũng đánh bị hại như bị cáo từ đó dẫn đến bị hại lấy 03 cây dao đâm bị cáo T2, khi này bị cáo và T2 chụp dao của bị hại và bị đau ở tay tức giận nên tiếp tục đánh bị hại bằng tay không, sau đó bị cáo Đ đã chụp lấy dùng dao yếm chém bị hại 02 nhát trúng vào vùng cằm và cẳng tay trái của bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể bị hại đến 20,7%

Đối với Lê Minh T khi nhậu cùng các bị cáo khác và bị hại biết rõ mâu thuẫn nội dung sự việc, khi thấy bị hại dùng dao đâm T2, Đ dùng dao chém bị hại thì bị cáo T tiếp xúc ý chí của các bị cáo dùng dao cán vàng tiếp tục chém đâm gạch nhiều nhát vào lưng bị hại gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 11.42%.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh T2 khi nhậu cùng bị hại và các bị cáo khác chứng kiến sự việc mâu thuẫn cự cãi giữa bị hại cùng nhóm bị cáo, bị cáo dùng tay đánh bị hại dẫn đến bị hại tức giận dùng dao đâm bị cáo trúng vùng hông trái, bị xước trúng ngón tay của mình, sau khi tước được hung khí của bị hại, Đ và T2 lần lượt chém, đâm bị hại bị cáo không dừng lại tiếp tục dùng dao kề cổ bị hại gây ra thương tích vùng cổ bị hại là 4%.

Trong vụ án này, các bị cáo không bàn bạc trước, phân công vài trò, trách nhiệm gì lẫn nhau, không có ai rủ rê, xúi giục, không có sự câu kết chặt chẽ nhưng tiếp xúc ý chí với nhau, cố ý cùng nhau mong muốn và đã thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại hại nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn với lỗi cố ý trực tiếp, đồng thực hành nên chịu trách nhiệm chung đối với thương tích bị hại. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét mức độ vết thương mà từng bị cáo đã trực tiếp gây ra cho bị hại làm căn cứ để lượng hình phạt cho phù hợp. Hành vi của các bị cáo không những đã trực tiếp gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác mà còn làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra vụ án.

Đây là vụ án có đồng phạm được quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 nhưng chỉ mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công gì trước khi thực hiện hành vi phạm tội, tất cả đều là người thực hành.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của bị cáo Đ, T, T2 là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, bằng việc bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 đã thừa nhận hành vi đánh gây thương tích cho Võ Hoàng E. Danh Đ dùng tay đánh Hoàng E khi Hoàng E chửi H2, khi can ngăn Hoàng E đâm T2 thì bị dao đâm trúng tay nên tức giận dùng dao chém Hoàng E trúng cằm và cẳng tay trái. Lê Minh T muốn bênh vực T2 mới dùng dao đâm, gạch vào lưng của Hoàng E gây thương tích. Nguyễn Minh T2 do bị Hoàng E dùng dao đâm trúng nên tức giận dùng dao kề vào cổ Hoàng E cho hả giận nên gây ra thương tích cho Hoàng E, thể hiện tính xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được rằng việc gây thương tích cho người khác là việc trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi đến cùng.

Hành vi trên đã gây dư luận xôn xao, bất bình trong quần chúng nhân dân; do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [4.1] Về nhân thân: Bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 chưa có tiền án, tiền sự.
  • [4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    - Các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 không có tính tiếc tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  • [4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    - Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi bản thân. Các bị can tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho hại số tiền 15.000.000 đồng (mỗi bị can 5.000.000đ) và bị hại có một phần lỗi.

[5] Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • [5.1] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra đến nay bị hại Võ Hoàng E không có yêu cầu bồi thường, tuy nhiên các bị cáo Danh Đ, Nguyễn Minh T2, Lê Minh T đã tự nguyện nộp tiền bồi thường cho bị hại 15.000.000₫ (mỗi bị cáo 5.000.000₫) nên ghi nhận sự tự nguyện này của các bị cáo.
  • [5.2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
    • - 04 (bốn) cây dao thái lan cán vàng, đã qua sử dụng, mỗi cây dài 20,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 10,5cm có mũi nhọn; cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm; trong đó có 01 cây có quấn dây lưới màu xanh, đỏ;
    • - 01 (một) cây dao bằng kim loại, đã qua sử dụng dài 33,5cm, lưỡi dao dài 22cm, rộng 5,5cm; cán dài 11,5cm hình ô van rổng ruột.

    Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS ngày 03/6/2025 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2025 (BL 196, 199).

    • - Đối với Võ Hoàng E có hành vi dùng dao đâm Nguyễn Minh T2 thương tích 04%, thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu nhưng do T2 không có yêu cầu khởi tố đối với Võ Hoàng E, nên Cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Hoàng E là phù hợp. (BL số: 154)
    • - Đối với Khách Thanh Hòa khi Võ Hoàng E dùng dao đâm T2 thì H2 dùng tay đánh Võ Hoàng E một cái vào mặt để trấn áp lấy hung khí, không cho đánh nhau, khi T2 và Đ lấy được hung khí thì H2 không tham gia nữa, hành vi không gây ra thương tích, Võ Hoàng E không có yêu cầu, nên Cơ quan công an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
  • [6] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

    - Các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2 bị buộc là có tội nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Danh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”

    Xử phạt bị cáo Danh Đ 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 25/9/2024.

  2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

    Xử phạt bị cáo Lê Minh T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 07/02/2025.

  3. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 07/02/2025.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 584; 585; 590 về trách nhiệm bồi thường dân sự, ghi nhận tự nguyện bồi thường của các bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng và các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải theo biên lai thu số 0003275, 0003276, 0003278 ngày 03/6/2025.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
    • - 04 (bốn) cây dao thái lan cán vàng, đã qua sử dụng, mỗi cây dài 20,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 10,5cm có mũi nhọn; cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm; trong đó có 01 cây có quấn dây lưới màu xanh, đỏ;
    • - 01 (một) cây dao bằng kim loại, đã qua sử dụng dài 33,5cm, lưỡi dao dài 22cm, rộng 5,5cm; cán dài 11,5cm hình ô van rổng ruột.

    Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS ngày 03/6/2025 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2025 (BL 196, 199).

  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    - Buộc các bị cáo Danh Đ, Lê Minh T, Nguyễn Minh T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
    • - Báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang
  • - VKSND huyện Kiên Hải;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Kiên Hải;
  • - Bị cáo, Những người TGTT;
  • - Lưu: HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Danh Đệ, Lê Minh Trí, Nguyễn Minh Trung phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger