Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH AN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 23/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Hoàn

2. Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Chu Thị H, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 28/5/1974, tại xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/12 phổ thông; Con ông Chu Ứng T - sinh năm 1936 và bà Đặng Thị P - sinh năm 1945; Nơi cư trú: xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Gia đình bị cáo có sáu anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chồng: Triệu Văn H1 – sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/3/2025. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng

Đại diện theo pháp luật: Ông Đàm Văn T1; Chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 3 lô 6C, khoảnh 5, tiểu khu E thuộc xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng thuộc loại rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân xã Q quản lý. Khoảng tháng 11/2024, Chu Thị H nảy sinh ý định chặt hạ toàn bộ số cây trên thửa đất để trồng cây làm kinh tế gia đình. Sau đó, Chu Thị H thuê 02 (hai) người dân tộc Mông (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) với tiền công thuê 400.000,đ/người/ngày để chặt hạ toàn bộ số cây và phát quang. Sau khi thoả thuận xong giá cả, 02 (hai) người dân tộc Mông đến thửa đất số 33, tờ bản đồ số 3 Lô F, khoảnh 5, tiểu khu E thuộc xóm T, Q, T, Cao B thực hiện việc chặt hạ toàn bộ số cây như thoả thuận. Sau khoảng 03 (ba) ngày 02 (hai) người dân tộc Mông đó đã chặt hạ toàn bộ số cây trên diện tích 4.593,3m² với số lượng cây bị chặt phá là 3,953m³ gỗ; 4,3 Ster thực vật rừng ngoài gỗ (dạng củi).

Ngày 02/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ban hành văn bản số: 1273/YC-CSKT yêu cầu định giá tài sản đối với 73 khúc gỗ tròn loài thông thường có khối lượng 3,953m³ gỗ; 4,3 Ster thực vật rừng ngoài gỗ (dạng củi). Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 12/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên Ủy ban nhân dân huyện T kết luận tổng giá trị rừng bị hủy hoại là 3.104.000,₫ (ba triệu một trăm linh tư nghìn đồng).

Hành vi của Chu Thị H đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị khởi tố về tội “Huỷ hoại rừng” quy định tại khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS-TA ngày 26/05/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Chu Thị H về tội “Huỷ hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí, không có ý kiến hay khiếu nại với bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 12/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên Ủy ban nhân dân huyện T. Bị cáo trình bày do là người dân tộc thiểu số, ít hiểu biết, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên bị cáo mới thực hiện hành vi phạm tội. Ủy ban nhân dân xã Q không yêu cầu bồi thường thiệt hại bị cáo cũng không có ý kiến gì. Chiếc bật lửa màu đỏ bị cáo dùng để đốt cây.

- Tại phiên toà, đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã Q ông Đàm Văn T1 vắng mặt. Tuy nhiên, tại đơn xét xử vắng mặt ông T1 xác nhận diện tích rừng bị cáo Chu Thị H huỷ hoại thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã Q. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ít hiểu biết, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Ủy ban nhân dân xã không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với diện tích rừng đã bị Chu Thị H huỷ hoại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Thị H phạm tội “Hủy hoại rừng”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Thị H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng) do không còn giá trị sử dụng.
  • + Tịch thu, phát mại ngân sách nhà nước đối với 73 khúc gỗ tròn loại thông thường khối lượng 3,953m³ và 4,3 Ster thực vật rừng ngoài gỗ (dạng củi) là vật chứng của vụ án đã được tạm giữ và bàn giao cho Ủy ban nhân dân xã Q quản lý theo quy định. Số gỗ này cần tiếp tục giao cho Ủy ban nhân dân xã Q quản lý và xử lý theo quy định khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

- Bản luận cứ bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bà Hà Thị H2 có nội dung:

Về tội danh: Quá trình điều tra, tại phiên toà bị cáo H đã thừa nhận hành vi của mình, lời khai nhận của bị cáo H phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, người bào chữa nhất trí với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuy nhiên, mong muốn Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét đến các yếu tố sau đây:

Về nhân thân, hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội: Bị cáo H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Trước lần phạm tội này, bị cáo H là công dân lương thiện, luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, kinh tế gia đình khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, thiếu đất canh tác nên để phát triển kinh tế gia đình, bị cáo H đã có hành vi chặt phá cây rừng để mở rộng đất làm nương rẫy. Hành vi vi phạm của bị cáo một phần xuất phát từ việc bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp (0/12), không biết chữ nhận thức pháp luật hạn chế do đó mặc dù được tuyên truyền nhưng không nhận thức đầy đủ hậu quả hành vi của mình gây ra cho xã hội, cho hoạt động quản lý Nhà nước và hệ sinh thái môi trường rừng.

Về thái độ của bị cáo: Sau khi bị khởi tố, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã nhận thức về những sai lầm của mình mắc phải, đã vô cùng hối hận. Bị cáo luôn thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn, hối cải, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận tình tiết “người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhận thức pháp luật hạn chế” là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định khoản 2 Điều 51.

Căn cứ các yếu tố đã nên trên, căn cứ việc bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt và cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo H là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ; gia đình thuộc hộ cận nghèo. Theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, bị cáo H thuộc trường hợp được miễn án phí. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo H.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh C; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng tháng 11/2024, Chu Thị H đã thuê 02 (hai) người dân tộc Mông (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) chặt hạ trái phép 3,953m³ gỗ; 4,3 Ster thực vật rừng ngoài gỗ trên diện tích 4.593,3m² tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 3, lô 6C, khoảnh 5, tiểu khu E địa chỉ: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng thuộc loại rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân xã Q quản lý mục đích để trồng cây nhằm phát triển kinh tế gia đình. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 12/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T kết luận tổng trị giá tài sản (3,953m³ gỗ; 4,3Ster thực vật rừng ngoài gỗ) là 3.104.000,₫ (ba triệu một trăm linh tư nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý rừng của Nhà nước, sự bền vững ổn định của môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc phá rừng khi chưa có sự đồng ý của cơ quan chức năng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại rừng theo quy định tại Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 243 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m²) đến dưới 7.000 mét vuông (m²);

d)...................;”.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hoá thấp, nhận thức pháp luật hạn chế; hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Tại địa phương, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng các chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Do vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An về mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, khoản 4 Điều 243 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...”. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và là hộ cận nghèo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân xã Q không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 chiếc bật lửa màu đỏ là công cụ thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 73 khúc gỗ tròn loại thông thường khối lượng 3,953m³ và 4,3 Ster thực vật rừng ngoài gỗ (dạng củi) cần giao lại cho Ủy ban nhân dân xã Q quản lý, xử lý.

[8]. Những vấn đề khác: Đối với 02 (hai) người đàn ông dân tộc Mông được bị cáo H thuê để cưa, chặt hạ toàn bộ số cây không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ mở rộng điều tra.

[9]. Về án phí: Bị cáo H là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Chu Thị H phạm tội "Hủy hoại rừng".

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Chu Thị H 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Chu Thị H.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân xã Q không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ.
  • - Giao cho Ủy ban nhân dân xã Q quản lý, xử lý đối với 73 khúc gỗ tròn loại thông thường có khối lượng 3,953m³ và 4,3 Ster thực vật rừng ngoài gỗ (loại củi).

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16 ngày 17/6/2025.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Chu Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ủy ban nhân dân xã Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND h. Thạch An;
  • - TAND t. Cao Bằng;
  • - VKSND t. Cao Bằng;
  • - Chi cục THADS h. Thạch An;
  • - UBND xã Quang Trọng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quỳnh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG về hình sự - hủy hoại rừng

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Thị Hường - Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger