|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 23/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Ngọc Quý;
Ông Phạm Tám;
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với:
- Bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Ngọc T; giới tính: Nam; sinh năm 2002 tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 6/12. Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Họ và tên cha: Phạm Điệp. Họ và tên mẹ: Đặng Thị M. Vợ con: Không.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 61/2021/HS-ST ngày 09/7/2021 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/01/2023 và đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Nhân thân:
- - Bản án số 154/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 15/12/2020. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi và phạm tội ít nghiêm trọng nên được coi là không có án tích.
- - Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2023.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này; hiện đang chấp hành án phạt tù theo Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tại Trại giam S1– Bộ C. Bị cáo được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử; có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Trần Văn S; giới tính: Nam; sinh năm 1997 tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 6/12. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Họ và tên cha: Trân Văn D. Họ và tên mẹ: Lê Thị L. Vợ con: không có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Bản án số 02/2019/HS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2021, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/6/2019.
- - Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2024, bản án này hiện nay đã có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N theo quyết định tạm giam của Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang; sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh; bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người bị hại: Ông Võ Văn T1; sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- - Người làm chứng: Ông Võ Văn T2; sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Tất cả người bị hại, người làm chứng đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 21/5/2023, Phạm Ngọc T rủ Trần Văn S đi tìm tài sản để trộm cắp kiếm tiền tiêu xài, S đồng ý. Cả hai sử dụng xe mô tô kiểu dáng Sirius (không rõ biển số) của T, S điều khiển xe mô tô chở T đi từ xã Đ vào xã V tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực nhà ông Võ Văn T3 ở thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì phát hiện xe mô tô 79V1-589.90 của anh Võ Văn T1 đang dựng ở trước sân nhà tại hẻm cụt không ai trông coi nên T bảo S dừng xe lại để trộm cắp. Sĩ đợi ở ngoài xe để cảnh giới còn T đi bộ đến nơi để xe mô tô 79V1- 589.90 thì thấy chìa khóa còn cắm ở ổ khóa nguồn nên lén lút mở khóa và quay xe nổ máy chạy đi. Sĩ thấy vậy cũng nổ máy xe chạy theo T và chạy theo đường Q hướng về thị trấn V. Khi xe chạy đến khu vực D xã V thì T thấy có nhóm người chạy xe đuổi theo mình; T không dám chạy nhanh để tẩu thoát vì sợ nguy hiểm đến tính mạng nên đã dừng xe và bỏ chạy bộ lên khu vực
nghĩa địa để trốn. Trên đường chạy bộ, T cởi áo khoác màu đen ra vứt bỏ, sau đó thì bị mọi người giữ lại và đưa T cùng xe mô tô đến Công an xã V để trình báo.
Tại cơ quan Công an, T không thừa nhận hành vi trộm cắp của mình và cho rằng xe do “Đen” và “Mã” giao cho T và nhờ chạy vào thị trấn V, bản thân không biết xe này bị trộm cắp. Đến ngày 13/6/2024, T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Riêng với S điều khiển xe mô tô của T chạy thoát và đem xe giấu vào một bụi cây ven đường đất thôn P B, xã V, huyện V rồi đón xe buýt về lại xã Đ. Sau đó, S nói cho T biết vị trí nơi giấu xe mô tô và bảo T đến đó lấy xe nhưng T không đến lấy nên xe đã thất lạc. Căn cứ vào lời khai của T và S, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm chiếc áo khoác và xe mô tô nhưng không thu giữ được vật chứng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 622/KL-TCKH.TTHS ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 79V1- 589.90 có giá trị 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Tại phiên tòa ngày hôm nay:
Bị cáo Phạm Ngọc T: Đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, nhận thức được hành vi của mình là sai trái và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Trần Văn S trình bày tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Bị cáo đã được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản thân bị cáo sắp phải đi chấp hành án trong vụ án mà Toà án nhân dân thành phố Nha Trang đã xét xử và đã có hiệu lực pháp luật, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, việc trích xuất bị cáo đến phiên toà sẽ gây bất tiện cho cơ quan chức năng, tốn kém chi phí của cơ quan tiến hành tố tụng nên xin được vắng mặt trong tất cả các buổi xét xử của Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh. Về nội dung vụ án, bị cáo giữ nguyên lời khai trong giai đoạn điều tra, không bổ sung thêm tài liệu chứng cứ mới, không bị ép cung, dùng nhục hình, không khiếu nại tố cáo gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản"; xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù giam.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản", xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù giam.
Tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
- [3] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 21/5/2023, tại khu vực sân nhà ông Võ Văn T3 thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Phạm Ngọc T và Trần Văn S đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 79V1- 589.90 của anh Võ Văn T1, trị giá: 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 03/CT-VKS-NT ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo về hành vi và tội danh như trên trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [4] Về tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Trước khi thực hiện hành vi phạm tội này:
- - Bị cáo T đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chỉ vừa chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/01/2023, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự. Hiện nay, bị cáo đang chấp hành hình phạt 02 năm 06 tháng tù vì hành vi “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn thị xã L vào ngày 01/11/2023 theo Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận .
- - Bị cáo Trần Văn S có nhân thân xấu, hiện nay đang chấp hành hình phạt 02 năm tù vì hành vi “Trộm cắp tài sản” vào tháng 10, 11 năm 2023 trên địa bàn thành phố N theo Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.
Do đó, cần thiết phải xử lý các bị cáo nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tổng hợp hình phạt chung của các bản án để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ tác dụng răn đe giáo dục các bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự để giảm nhẹ một
phần hình phạt đối với các bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- [6] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 79V1- 589.90, Cơ quan điều tra đã trả cho người bị hại là anh Võ Văn T1. Anh T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không còn yêu cầu gì khác (Bút lục số: 31, 152, 153). Tại phiên toà hôm nay, anh T1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản"; xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản"; xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 286/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Lãm |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN Nguyễn Viết Lãm |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc T và đồng phạm trộm cắp tài sản
