Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAN LỘC

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 21/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Đạt, ông Nguyễn Huy Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy – Thư ký TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tình, ông Bùi Trường L – Kiểm sát viên

Trong các ngày 19 và 21 tháng 03 năm 2025, tại Hội trường xét xử hình sự, Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST- HS, ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST–HS ngày 06/03/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Viết V; sinh ngày: 29/6/1997 tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Viết T và bà Trần Thị P. Có vợ: Trần Thị T1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2024 đến ngày 16/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Tòa

2. Bùi Thị M; sinh ngày: 24/6/1983 tại xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông Bùi Văn T2 và bà Nguyễn Thị M1. Có chồng: Phan Văn P1 và 04 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 16/12/2024 đến nay, hiện trú tại xã H, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt tại phiên Tòa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phan Công H, sinh năm 1995, nghề nghiệp: Lái xe. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

- Anh Trần Đình H1, sinh năm 2007, nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

- Anh Phan Công H2, sinh năm 1985, nghề nghiệp: Kinh doanh. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

- Anh Phan Văn P1, sinh năm 1983; nghề nghiệp: Làm ruộng. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 12/2024, khi Nguyễn Viết V đang ngồi uống cà phê trên địa bàn xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh thì có một người đàn ông lạ mặt, tự xưng tên là “D” ở xã K, là lái xe đường dài (không rõ tên tuổi, địa chỉ), chủ động lại nói chuyện với Nguyễn Viết V và hỏi với nội dung: “Có lấy được pháo hoa do nước ngoài sản xuất để chơi tết thì lấy bán cho anh 03 hộp pháo hoa, loại 36 quả”. Sau khi nói chuyện hai bên thống nhất giá bán mỗi hộp pháo hoa là 1.200.000 đồng/01 hộp. Sau đó, người đàn ông tên D để lại số điện thoại 0868.568.xxx và nói với V nếu lấy được thì sẽ về liên lạc lại và giao trước cổng UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Vào ngày 05/12/2024, Nguyễn Viết V điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 38H - 015.52 chở Phan Công H, sinh năm 1995 và Trần Đình H1, sinh năm 2007, đều trú tại xã T, huyện C (là lái xe và phụ xe của Công ty “Hiếu Ngọc” có địa chỉ tại xã T, huyện C) sau khi đi giao hàng thức ăn gia súc từ huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xong thì tiếp tục vào thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận hàng chuyển về. Đến sáng ngày 07/12/2024, trong lúc chờ nhận hàng bồn nhựa đựng keo tại thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, V sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng, gắn sim số điện thoại 0336.605.xxx gọi điện qua số điện thoại 0388.056.xxx được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J2 cho Bùi Thị M là người buôn bán hàng tạp hóa gần cửa khẩu L1 (trước đó V nhiều lần mua hàng nước tăng lực bò húc từ M nên quen biết) hỏi mua 11 hộp pháo hoa các loại. Sau khi thống nhất, hai bên đồng ý đưa ra giá mua bán như sau: 05 hộp pháo hoa loại 36 quả, bán mỗi hộp 650.000 đồng; 05 hộp pháo hoa loại 49 quả, bán mỗi hộp 800.000 đồng và 01 hộp pháo hoa loại 9 quả với giá 1.100.000 đồng. Tổng số tiền V phải thanh toán cho M là 8.350.000 đồng, tuy nhiên M bớt 50.000 đồng cho V và hẹn giao pháo ở gần cổng chào xã M thuộc huyện G, tỉnh Quảng Trị. Sau đó, M bắt xe buýt đi lên Khu T, tỉnh Quảng Trị gặp một người phụ nữ, tầm khoảng 40 đến 50 tuổi (không quen biết, không rõ tên tuổi và địa chỉ cụ thể) hỏi mua 11 hộp pháo hoa như V đã đặt hàng với tổng số tiền 7.250.000 đồng. Số pháo này được người phụ nữ bán pháo gói trong 01 chiếc túi ni long màu đen cột kín miệng, đặt trong chiếc làn bằng nhựa rồi giao cho M, M thanh toán tiền mặt. Sau đó, M bắt xe buýt đi về nhà và cất dấu chiếc làn nhựa chứa các hộp pháo ở khu vực thềm nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, V sử dụng tài khoản zalo “Vũ Tobaco” gọi đến tài khoản zalo “Bé ty” của M thông báo gần đến nơi giao hàng. Lúc này do đang bận việc nên M chỉ vào làn nhựa (bên trong có chứa pháo) và nói với chồng mình là anh Phan Văn P1, sinh năm 1983, với nội dung: “Mang nước tăng lực cho khách đi xe ô tô tải biển 38 dừng trước cổng làng xã M, lấy tiền hàng số tiền 8.300.000 đồng, tính cả nợ cũ tiền nợ nước tăng lực”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày khi đến địa điểm đã hẹn, V dừng xe ô tô biển kiểm soát 38H - 015.52 bên lề đường, lúc đó anh P1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1- 311.45 đi ra, giao làn nhựa chứa 11 hộp pháo hoa cho V. Khi nhận được làn nhựa đựng hàng, V biết bên trong là pháo hoa của M giao nên không hỏi, không kiểm tra và đưa số tiền 8.300.000 đồng cho anh P1. Lúc này, V gọi H1 từ trên xe ô tô xuống, nhờ bê giúp làn nhựa lên xe, hai người đặt làn nhựa bên giường trong cabin xe ô tô tải, gần vị trí H đang nằm ngủ. Sau đó, V điều khiển xe ô tô di chuyển theo Quốc lộ A đi về Hà Tĩnh, còn H1 và H thay nhau ngồi ghế phụ lái và ngủ. Khi về đến địa bàn tỉnh Hà Tĩnh thì H thức dậy, V nói với H lấy giúp 03 hộp pháo hoa, loại 36 quả để trong làn bên giường để bán cho người đàn ông tên “D” ở xã K Trường như đã hẹn trước đó. H mở làn nhựa lấy 03 hộp pháo hoa, loại 36 quả để vào túi bóng đen, cột kín lại để bên ghế phụ lái giúp V. Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, xe ô tô tải mang biển kiểm soát 38H - 015.52 do V điều khiển di chuyển về đến trước cổng UBND xã T, huyện C. Lúc này V dừng xe ô tô, cầm lấy túi ni lông bên trong chứa 03 hộp pháp hoa, loại 36 quả xuống xe chuẩn bị gọi điện cho người đàn ông tên “D” thì bị lực lượng Công an phát hiện. Sau đó, lực lượng Công an tiếp tục khám xét xe ô tô biển kiểm soát 38H - 015.52 và thu giữ 08 khối pháo ở cabin xe tải. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng có liên quan. Đối với Bùi Thị M, sau khi biết Nguyễn Viết V bị bắt liên quan đến hành vi Buôn bán hàng cấm là pháo hoa nổ do mình đã bán cho V vào ngày 07/12/2024 thì đã tự đến Công an huyện C đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tự nguyên giao nộp số tiền 8.300.000 đồng bán pháo cho V trước đó.

Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Viết V và Bùi Thị M về nguồn gốc số pháo, cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Viết V tại thôn S, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và chổ ở của Bùi Thị M tại thôn T, xã H, huyện G, tỉnh Quảng Trị, kết quả không thu giữ được gì có liên quan đến hành vi phạm tội

* Kết quả giám định pháo:

Bản Kết luận định giám định số 1388/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

- 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x10)cm, bên trong mỗi khối chứa 36 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn, ký tự nước ngoài, có ký hiệu C0834 (ký hiệu A1) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 4,12 kg.

- 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x10)cm, bên trong mỗi khối hộp chứa 36 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn, ký tự nước ngoài, có ký hiệu C0834 (ký hiệu A2) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 2,74 kg.

- 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (18x18x10)cm, bên trong mỗi khối hộp chứa 49 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn, ký tự nước ngoài, có ký hiệu OK04-23-01 (ký hiệu A3) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 09 kg.

- 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (16x16x25)cm, bên trong khối hộp chứa 09 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn, ký tự nước ngoài, có ký hiệu CI759A (ký hiệu A4) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 2,6 kg.

Như vậy, 11 hộp pháo hoa nổ Nguyễn Viết V mua của Bùi Thị M nhằm mục đích bán lại để kiếm lời có tổng khối lượng là: 18,46 kg.

* Vật chứng có liên quan đến vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ:

- Thu giữ khi phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với Nguyễn Viết V:

  • + 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x10)cm, bên trong mỗi khối chứa 36 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, có ký hiệu C0834, có tổng khối lượng là 4,12 kg (Sau khi lấy khối lượng 0,15 kg để làm mẫu giám định, còn lại khối lượng 3,97 kg).
  • + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x10)cm, bên trong mỗi khối chứa 36 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, có ký hiệu C0834, có tổng khối lượng là 2,74 kg (Sau khi lấy khối lượng 0,15 kg để làm mẫu giám định, còn lại khối lượng 2,59 kg).
  • + 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (18x18x10)cm, bên trong mỗi khối chứa 49 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, có ký hiệu OK04-23-01, có tổng khối lượng là 09 kg (Sau khi lấy khối lượng 0,05 kg để làm mẫu giám định, còn lại khối lượng 8,95 kg).
  • + 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (16x16x25)cm, bên trong chứa 09 ống hình trụ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, có ký hiệu CI759A, có tổng khối lượng là 2,6 kg (Sau khi lấy khối lượng 0,55 kg để làm mẫu giám định, còn lại khối lượng 2,05 kg).
  • + 01 (một) chiếc giỏ làn bằng nhựa nhiều màu sắc, kích thước (70x40x30) cm, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu Chenglong, màu bạc, biển kiểm soát 38H - 015.52; kèm theo giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Viết V; giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện kỹ thuật giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô mang biển kiểm soát 38H - 015.52 số 2162838; giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng T4 số 38H-015.52/TPBank/05 và giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển kiểm soát 38H-015.52 số 23284660.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng, số Imei: 356765083228807 gắn thẻ sim số 0336605657 đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33 màu đen, số Imei1: 353475123631944, số Imeil 2: 355814213631943, gắn thẻ sim số 0814942687 đã qua sử dụng.

- Thu giữ của Phan Công H:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, gắn sim số 0988018954, số IMEI 354833094004815 đã qua sử dụng.

- Thu giữ từ Bùi Thị M khi ra đầu thú:

  • + Tiền Ngân hàng N gồm 8.300.000 đồng.

Riêng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J2 của Bùi Thị M sử dụng để liên lạc mua bán pháo hoa với Nguyễn Viết V, Bùi Thị M khai quá trình sinh hoạt đã làm rơi mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Qúa trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại: xe ô tô tải biển kiểm soát 38H – 015.52, kèm theo giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Viết V, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng T4, giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện đều của xe ô tô biển kiểm soát 38H – 015.52 cho Nguyễn Viết V. Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, gắn sim số 0988018954 cho Phan Công H. Các vật chứng còn lại đều chưa xử lý.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS–CL ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Viết V, Bùi Thị M về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V từ 14 - 17 tháng tù nhưng có hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 - 34 tháng. Bùi Thị M từ 12 - 15 tháng tù nhưng có hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng. Xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Thị M từ 20.000.000 đồng – 22.000.000 đồng

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số pháo đã bị thu giữ; 01 (một) chiếc giỏ làn bằng nhựa nhiều màu sắc đã qua sử dụng và 01 thẻ sim số 0336605657

Tịch thu, hóa giá và sung công quỹ nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng; số tiền 8.300.000 đồng

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi, quyết định đó đảm bảo hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi mua, bán pháo của mình như cáo trạng đã phản ánh. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ khẳng định:

Vào ngày 07/12/2024, Nguyễn Viết V đã liên lạc với Bùi Thị M để mua 05 hộp pháo hoa loại 36 quả; 05 hộp pháo hoa loại 49 quả và 01 hộp pháo hoa loại 9 quả có tổng khối lượng 18,46 kg, với tổng số tiền là 8.300.000 đồng. Đến 18 giờ 10 phút cùng ngày, khi Nguyễn Viết V đưa 03 hộp pháo hoa đến trước cổng UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để giao cho đối tượng không quen biết, không rõ địa chỉ cụ thể tên là “D” như đã hẹn trước đó thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan đến vụ án.

Các bị cáo Nguyễn Viết V, Bùi Thị M thực hiện hành vi mua bán 18,46 kg pháo nổ khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 BLHS, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 21 BLHS, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, mục đích vụ lợi cá nhân nên hành vi của Nguyễn Viết V, Bùi Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật nói trên là đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, các bị cáo Bùi Thị M và Nguyễn Viết V đều thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo Bùi Thị Mai S khi phạm tội đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “đầu thú” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm, vi phạm Nghị định của Chính phủ về việc cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và đốt các loại pháo, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Các bị cáo biết rõ việc buôn bán pháo nổ là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thu lợi nên vẫn thực hiện. Bởi vậy cần phải có hình phạt nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Nguyễn Viết V là người chủ động đặt vấn đề mua pháo từ Bùi Thị M nên là người giữ vai trò chính. Bị cáo Bùi Thị M là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhân thân của các bị cáo, khả năng tự cải tạo của các bị cáo, xét thấy cho các bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương là phù hợp quy định tại Điều 65 BLHS, Điều 2, điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Viết V, Bùi Thị M thực hiện hành vi phạm tội đều nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 4 điều 190 BLHS.

[5]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a, b, c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 điều 106 BLTTHS:

05 hộp pháo hoa loại 49 ống (có 4 ống đã lấy mẫu), 05 hộp pháo hoa loại 49 ống (có 8 ống đã lấy mẫu) và 01 hộp pháo hoa loại 09 ống (có 02 ống đã lấy mẫu) là vật cấm lưu hành; 01 giỏ nhựa, sim 0336605657 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 8.300.000 đồng và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

[7]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Viết V, Bùi Thị M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 6, khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9]. Liên quan trong vụ án còn có:

Phan Công H là người lấy 03 hộp pháo để bị cáo V bán cho người khác nhưng khối lượng của 03 hộp pháo hoa này là 4,12 kg. Trần Đình H1 là người cùng với Vũ bưng làn nhựa chứa 11 hộp pháo lên xe nhưng H1 không biết bên trong là pháo. Phan Văn P1 là người đưa làn nhựa đựng pháo đi giao cho bị cáo V nhưng P1 không biết đó là pháo. Lê Thị Hàn T3 là chủ xe mô tô biển kiểm soát 74C1 – 311.45 mà Phan Văn P1 dùng để chở pháo giao cho bị cáo V nhưng chị T3 cho P1 mượn xe để đi lại. Phan Công H2 là chủ sở hữu xe ô tô tải biển kiểm soát 38H - 015.52, anh H2 không biết V tự ý sử dụng xe ô tô để vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Do đó, cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người này là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ bán pháo cho Bùi Thị M và người đặt mua pháo tên “D”: Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu, khi đủ căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2 đối với bị cáo Bùi Thị M) điều 51; điều 17; điều 38; điểm a, c khoản 1 điều 47 ; điều 58; điều 65 Bộ luật Hình sự . Điểm a, b khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136; điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 6, khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Viết V, Bùi Thị M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt:

Nguyễn Viết V 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 20.000.000 (hai mươi triệu đồng)

Bùi Thị M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 20.000.000 (hai mươi triệu đồng)

Giao bị cáo Nguyễn Viết V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; giao bị cáo Bùi Thị M cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Quảng Trị quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 05 hộp pháo hoa loại 49 ống (có 4 ống đã lấy mẫu), 05 hộp pháo hoa loại 49 ống (có 8 ống đã lấy mẫu) và 01 hộp pháo hoa loại 09 ống (có 02 ống đã lấy mẫu); 01 giỏ nhựa và sim 0336605657

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 8.300.000 đồng (tám triệu ba trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 màu vàng.

(Đặc điểm cụ thể từng loại vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc; biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025 giữa Công an huyện C và Phòng Hậu cần kỹ thuật – Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H)

Về án phí: Buộc Nguyễn Viết V, Bùi Thị M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - PC 10 – Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Can Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Can Lộc;
  • - UBND xã Thượng Lộc, huyện Can Lộc;
  • - UBND xã Hải Thái, huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLVNVLQ;
  • - Lưu: HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Anh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về buôn bán hàng cấm (pháo nổ)

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Pháo nổ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 07/12/2024, Nguyễn Viết Vũ đã liên lạc với Bùi Thị Mai để mua 05 hộp pháo hoa loại 36 quả; 05 hộp pháo hoa loại 49 quả và 01 hộp pháo hoa loại 9 quả có tổng khối lượng 18,46 kg, với tổng số tiền là 8.300.000 đồng. Đến 18 giờ 10 phút cùng ngày, khi Nguyễn Viết Vũ đưa 03 hộp pháo hoa đến trước cổng UBND xã Thượng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh để giao cho đối tượng không quen biết, không rõ địa chỉ cụ thể tên là “Dương” như đã hẹn trước đó thì bị lực lượng Công an huyện Can Lộc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan đến vụ án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger