TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 18 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Chương, ông Bùi Quang Huân
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Diệu Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện VKSND huyện Cẩm Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử TAND huyện Cẩm Xuyên kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST- HS, ngày 26/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS, ngày 05/3/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T.
Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/5/1989 tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu N - Sinh năm 1964. Con bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1964. Vợ: Trần Thị C - Sinh năm 1992 (Đã ly hôn). Có 1 con sinh năm 2011.
Tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 25/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Nguyễn Hữu T 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 07/9/2024 bị cáo chấp hành án xong hình phạt; chấp hành án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/01/2024; chưa được xoá án tích. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/01/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Đình H1, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
Ông Nguyễn Hữu N; Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
* Người chứng kiến: Ông Trần Bá L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sỹ hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H: Đồng chí Lê Bùi Nam A, Lê Hồ Việt A1, Lê Bá M.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ ngày 23/12/2024, tại khu vực sân cửa hàng vật liệu xây dựng H, thuộc địa phận thôn A, xã C, huyện C, quá trình tuần tra, tổ công tác Công an huyện C phát hiện Nguyễn Hữu T đang ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 38X1-296.12 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động ma túy nên tiến hành kiểm tra. Khi phát hiện lực lượng Công an, do lo sợ nên Nguyễn Hữu T đã thả gói ma túy đang cầm trên tay xuống nền đất cạnh vị trí bánh trước xe mô tô do T điều khiển. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện 01gói giấy bạc kích thước (1,5x1) cm bên trong chứa 01 miếng ni lông màu xanh đựng các hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý, ở dưới nền đất cạnh bánh trước xe mô tô của T nên tiến hành làm việc. Quá trình làm việc Nguyễn Hữu T khai nhận chất tinh thể chứa trong miếng ni lông bọc bằng giấy bạc mà lực lượng Công an phát hiện ở khu vực nền đất cạnh bánh xe mô tô là ma tuý đá của Nguyễn Hữu T đã thả xuống đất khi bị lực lượng Công an kiểm tra và Nguyễn Hữu T đã tự nguyện nhặt bọc giấy bạc có đặc điểm trên giao nộp cho Cơ quan Công an. Công an huyện C đã tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ tang vật có liên quan. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình như sau:
Do trước đó đã cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 23/12/2024, Nguyễn Hữu T có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đen, biển kiểm soát 38X1-296.12 đi từ nhà ở thôn T, xã C, huyện C ra nhà Nguyễn Đình H1, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã C, huyện C (nay thuộc thành phố H). Khi đến nơi thì T gặp H1 ở trước cửa nhà, lúc này T hỏi H1: “Có tý đồ nào không cho em tý?” (ý T xin H1 một ít ma túy để về sử dụng) thì H1 không nói gì mà đi vào nhà rồi một lúc sau đi ra đưa cho T 01gói giấy bạc bên trong có chứa miếng ni lông đựng các hạt tinh thể màu trắng (T biết đó là ma túy đá) thì T cầm lấy rồi điều khiển xe mô tô đi dọc trục đường Q để tìm địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy. Khi đến địa điểm nói trên, T đang ngồi trên xe mô tô tìm kiếm vị trí để sử dụng thì bị tổ tuần tra Công an huyện C phát hiện, bắt giữ.
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nhà ở của Nguyễn Đình H1 nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy.
Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 24/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nhà ở của Nguyễn Hữu T nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 91/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng (Ký hiệu A) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,05 gam.
Vật chứng vụ án gồm: 01 mẫu giấy bạc kích thước 1,5 x 01 cm bên trong chứa 01 miếng miếng ni lông, màu xanh đựng 0,05 gam ma túy, loại Methamphetamine.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: BLADE, màu sơn: Đen đỏ, biển kiểm soát 38X1-296.12, số khung: 3647GY101772, số máy: JA36E0571937 đã qua sử dụng; đã trả lại cho ông Nguyễn Hữu N.
Với hành vi trên, tại cáo trạng số 07/CT-VKS-CX, ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Tuấn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 249, tiết đầu điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình; mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử khẳng định quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:
Vào lúc 20 giờ ngày 23/12/2024, tại khu vực sân cửa hàng vật liệu xây dựng H, thuộc địa phận thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Công an huyện C phát hiện, bắt giữ Nguyễn Hữu T đã có hành vi tàng trữ 0,05 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Bị cáo có 1 tiền án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Thạch Hà tuyên phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự:
“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị kết án về tội này... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...”.
Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại tiết đầu điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo đã có 1 tiền án, chưa được xoá án tích sau khi ra tù bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã ly hôn vợ, phải nuôi con nhỏ nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Xét mức hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 mẫu giấy bạc kích thước 1,5 x 01 cm bên trong chứa 01 miếng miếng ni lông, màu xanh đựng 0,05 gam ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra Phòng K Công an tỉnh H đã tiến hành lấy hết mẫu để giám định ma túy, không hoàn lại mẫu vật giám định.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: BLADE, màu sơn: Đen đỏ, biển kiểm soát 38X1-296.12, số khung: 3647GY101772, số máy: JA36E0571937 đã qua sử dụng; thu của Nguyễn Hữu T, đã trả lại cho ông Nguyễn Hữu N là đúng quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Bị phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với Nguyễn Đình H1: Theo khai nhận của Nguyễn Hữu T thì H1 là người đã cho T ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Đình H1 nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hoạt động ma túy của H1. Nguyễn Hữu T cũng không cung cấp được chứng cứ về việc H1 đã cho mình số ma túy nói trên. Do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với của Nguyễn Đình H1.
- Đối với ông Nguyễn Hữu N là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 38X1-296.12. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Hữu T mượn chiếc xe mô tô trên của ông N không nói cho ông N biết mục đích mượn xe đi để xin ma túy về sử dụng. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý hành vi này của ông Nguyễn Hữu N là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, tiết đầu điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 02/01/2025).
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Minh Hiền |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
