|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 24-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Quang Sơn - Giáo viên Trường THCS Nguyễn Thiện Thuật và bà Lê Thị Oanh - Nguyên là Phó bí thư Huyện đoàn Khoái Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Nhật Lệ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: ông An Bình Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 24-01-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST- HS ngày 14/01/2025 đối với bị cáo: Nguyễn Đức D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/10/2007; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú số nhà B, ngõ A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (từ ngày 01/12/2024 xã T và xã N sáp nhập thành xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; Họ và tên mẹ: Đào Thị H, sinh năm 1987; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 2; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024 (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện giám hộ cho bị cáo: Chị Nguyễn Thị Diễm Q, sinh năm 2006 (là chị gái ruột của bị cáo D); Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1984, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H. Địa chỉ: Số A đường A - Phường H - Thành phố H. (Có mặt)
- Những người bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh ngày 03/3/2007; Người đại diện cho anh Nguyễn Văn H1 là bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1982; Đều có địa chỉ: thôn H, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Đều vắng mặt);
2. Anh Nguyễn Duy Việt Đ, sinh ngày 19/6/2007; Người đại diện cho anh Nguyễn Duy V Đ là bà Lê Thị T2, sinh năm 1964; Đều có địa chỉ: thôn H, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Đều vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 25/10/2024, Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/10/2007, trú tại thôn H, xã T (nay là xã N), huyện K, tỉnh Hưng Yên đi bộ một mình trên đường bê tông thuộc thôn H, xã T, huyện K, mục đích xem nhà ai sơ hở sẽ đột nhập vào trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để tránh bị người khác phát hiện, D đã sử dụng một chiếc áo chống nắng, dài tay rồi đội mũ của áo trùm lên đầu. Lúc này, D nghĩ đến nhà anh Nguyễn Văn H1, sinh ngày 03/3/2007 (là bạn chơi với D ở cùng thôn). Khi đến nhà anh H1, do cổng đã khóa nên D đã trèo qua tường để vào nhà. Khi vào trong nhà, thấy có đèn điện thắp sáng, nên D cúi thấp người để lẻn vào phía trong thì phát hiện thấy anh H1 và anh Nguyễn Duy Việt Đ, sinh ngày 19/6/2007 đang nằm ngủ. D quan sát thấy phía trên đầu giường tại vị trí anh H1 và anh Đ đang nằm ngủ có 01 (một) chiếc điện thoại Iphone nhãn hiệu XS Max màu vàng (gold) và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 11 màu đen nên D đã lấy cả hai chiếc điện thoại trên cất vào túi quần đùi đang mặc rồi đi về nhà. Về đến nhà, D tắt nguồn hai chiếc điện thoại di động trên và cất giấu dưới gối trong phòng ngủ của mình. Ngày 26/10/2024, anh Nguyễn Văn H1 và anh Nguyễn Duy Việt Đ đã trình báo Công an xã T về việc bị trộm cắp 02 (hai) chiếc điện thoại trên.
Ngày 29/10/2024, Nguyễn Đức D đã đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện K đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại Iphone XS max màu vàng (gold) và 01 (một) điện thoại Xiaomi Readmi Note 11 màu đen đã trộm cắp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 13/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện K, kết luận: Tổng giá trị của 01 (một) chiếc điện thoại Iphone XS max màu vàng (gold) và 01 (một) điện thoại Xiaomi Readmi Note 11 màu đen, đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ việc có trị giá 5.933.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Nguyễn Đức D phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng: Xác định 01 điện thoại Xiaomi Readmi Note 11 màu đen là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Duy Việt Đ và 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng (gold) là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H1, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện K đã trả lại cho anh Đ, anh H1.
Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đang quản lý: 01 (một) đôi dép lê Xtyoteet, viền quai màu trắng đen (đã qua sử dụng) và 01 (một) áo dài tay chống nắng, có mũ trùm qua đầu, màu ghi.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã được bị cáo giao nộp và xử lý trả lại đầy đủ cho các bị hại, và không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự đối với bị can.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ngoài ra bị can đầu thú. Do đó, cần áp dụng các quy định của pháp luật để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KC ngày 14/01/2025 của VKSND huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Việm kiểm sát nhân dân huyện K giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo D như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đồng thời, đề nghị HĐXX áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 136 của BLTTHS, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Đức D phạm “Tội trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) đôi dép lê Xtyoteet, viền quai màu trắng đen (đã qua sử dụng) và 01 (một) áo dài tay chống nắng, có mũ trùm qua đầu, màu ghi. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét, giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí HSST
- Bị cáo Duy nhất T3 với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, đồng thời thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để được cải tạo tại địa phương.
- Người đại diện giám hộ cho bị cáo là chị Nguyễn Thị Diễm Q có quan điểm nhất trí với nội dung bản cáo trạng, luận tội của đại diện VKSND huyện Khoái Châu đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để được cải tạo tại địa phương vì bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhất thời phạm tội.
- Người bào chữa cho bị cáo D là bà Phạm Thị T1 có quan điểm: nhất trí về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà VKSND huyện Khoái Châu đã truy tố, đề nghị đối với bị cáo D. Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhất thời phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người bị hại anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Duy Việt Đ và người đại diện hợp pháp cho họ đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt, trong hồ sơ vụ án họ cũng đã có lời khai, quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào Điều 292 của BLTTHS năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của chính bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của các bị hại, kết luận giám định, định giá tài sản; vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 25/10/2024, tại nhà anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2007, ở thôn H, xã T (nay là xã N), huyện K, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Nguyễn Đức D đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại Iphone XS max màu vàng (gold) của anh Nguyễn Văn H1 và 01 chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 11 của anh Nguyễn Duy Việt Đ. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt được là 5.933.000 đồng (Năm triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn đồng); trong đó, chiếc điện thoại Iphone XS max có giá là 4.333.000đ, chiếc điện thoại Xiaomi Readmi Note 11 có giá là 1.600.000đ. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành “Tội trộm cắp tài sản”. Vậy nên, tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KC ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về “Tội trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng mối quan hệ quen biết với bị hại, thường xuyên qua lại nên lợi dụng lúc bị hại không cảnh giác đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại nhằm mục đích bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân để áp dụng hình phạt cho tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
- Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, xin giảm nhẹ hình phạt và được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên khi quyết định hình phạt, HĐXX áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội được quy định tại Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của BLHS để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Xét đề nghị của Đại diện VKSND huyện Khoái Châu, người đại diện hợp pháp cho bị cáo và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Vì những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, người đại diện hợp pháp cho bị cáo và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên được chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 của BLHS năm 2015 để phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận đủ tài sản mà bị cáo D trộm cắp. Không ai có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
- Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
- Đối với 02 chiếc điện thoại do bị cáo trộm cắp, quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện K đã trả lại cho bị hại, người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.
- Đối với 01 (một) đôi dép lê Xtyoteet, viền quai màu trắng đen (đã qua sử dụng) và 01 (một) áo dài tay chống nắng, có mũ trùm qua đầu, màu ghi không có giá trị sử dụng đồng thời bị cáo không yêu cầu xin lại nên tịch thu cho tiêu hủy. (Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSKC, ngày 14/01/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).
- Về án phí: Buộc bị cáo D phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/01/2025).
Giao bị cáo D cho UBND xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo D
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
- Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) đôi dép lê Xtyoteet, viền quai màu trắng đen (đã qua sử dụng) và 01 (một) áo dài tay chống nắng, có mũ trùm qua đầu, màu ghi. (Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSKC, ngày 14/01/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chịu 200.000đ án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của BLTTHS. Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/01/2025); Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Trung Kiên |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về tội trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức D phạm tội "trộm cắp tài sản"
