|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày 19 - 6 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Trung Thọ
- Bà Hoàng Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quang Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/HSST ngày 27/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05/6/2025 đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn D; sinh ngày 17 tháng 02 năm 1977, tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Tổ D, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1935 (đã chết); con bà: Đỗ Thị H, sinh năm 1935; vợ: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1972 và có 01 con, sinh năm 1996; số CCCD: [...] cấp ngày 09/01/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; tiền án: tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/04/2025 đến ngày 24/04/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1986, nơi thường trú: Thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang; hiện đang tạm trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1972, trú tại: Tổ D, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/02/2019, do có nhu cầu vay tiền để giải quyết công việc cá nhân nên chị Hoàng Thị K, sinh năm 1986, nơi thường trú tại thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang có gặp chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1972, trú tại tổ D, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang để hỏi vay số tiền là 30.000.000 đồng và chị Đ đã đồng ý. Khi chị Đ cho chị K vay tiền thì hai bên có viết giấy vay tiền nhưng không thỏa thuận về lãi suất. Đến khoảng tháng 9/2023, chị K chưa có tiền trả cho chị Đ nên Nguyễn Văn D, sinh năm 1977, nơi thường trú tại tổ D, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang là chồng chị Đ trực tiếp đến gặp chị K để đòi nợ số tiền chị K đang nợ nhưng do chị K chưa có tiền trả nên D yêu cầu chị K phải trả lãi đối với số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/01triệu/01 ngày tương ứng với số tiền 2.700.000 đồng/01 tháng, chị K đồng ý (chỉ thỏa thuận miệng, không ghi vào giấy vay tiền). Từ ngày 07/9/2023 đến ngày 24/3/2025 là 564 ngày, chị K sử dụng số tài khoản 8201215005127 của Ngân hàng N chi nhánh huyện Q, tỉnh Hà Giang chuyển tiền đến số tài khoản 8201205033703 của Nguyễn Văn D mở tại Ngân hàng N chi nhánh huyện Q, tỉnh Hà Giang với tổng số tiền là 51.300.000 đồng, tương đương lãi suất 110,7%/năm, vượt quá 5,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi D được hưởng theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 9.271.233 đồng, số tiền lãi D thu lợi bất chính là 42.028.767 đồng, số tiền lãi thu được D sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 13/4/2025 chị K làm đơn tố cáo hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của D đến Cơ quan công an tỉnh H. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tài liệu vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A18 của Nguyễn Văn D.
- - 01 tờ giấy vay tiền đề ngày 25/02/2019 giữa Hoàng Thị Đ và Hoàng Thị K.
- - Số tiền 25.000.000 đồng do Nguyễn Văn D giao nộp là tiền do phạm tội mà có.
Biện pháp cưỡng chế: Ngày 15/04/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 358/LPT-CSHS đối với số tài khoản 8201205033703, chủ tài khoản Nguyễn Văn D mở tại Ngân hàng N (A), Chi nhánh huyện Q, tỉnh Hà Giang với số tiền hiện có trong tài khoản là 3.578.527 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSHG-P1 ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự, các biện pháp tư pháp, vật chứng của vụ án và nghĩa vụ chịu án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trùng khớp với lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/02/2019 chị Hoàng Thị K vay 30.000.000 đồng của chị Hoàng Thị Đ nhưng do hoàn cảnh khó khăn, chị K chưa trả cho chị Đ được nên đến tháng 9 năm 2023 chồng của chị Đ là bị cáo Nguyễn Văn D đến gặp chị K để đòi số tiền 30.000.000 đồng, chị K chưa có tiền để trả, nên D yêu cầu K phải trả lãi đối với số tiền 30.000.000 đồng là 3000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày, hàng tháng K phải trả cho bị cáo D số tiền lãi 2.700.000 đồng. Tính từ ngày 07/9/2023 đến ngày 24/3/2025 là 564 ngày, chị K đã trả tiền lãi cho D với tổng số tiền lãi là 51.300.000 đồng, tương đương lãi suất 110,7%/năm, vượt quá 5,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1, Điều 468 của Bộ luật dân sự, số tiền lãi D được hưởng theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 9.271.233 đồng, số tiền lãi D thu lợi bất chính là 42.028.767 đồng. Do vậy hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện bằng cách lợi dụng nhu cầu cần vay tiền của người dân để cho vay tiền với lãi suất cao 110,7%/năm, gấp 5,5 lần mức lãi suất tối đa quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện trả lại phần tiền thu lợi bất chính cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bản thân bị cáo là người nhiễm HIV nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, ở địa phương bị cáo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, chấp hành tốt theo giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thu nhập từ nghề lái xe taxi. Vì vậy áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5 ] Đối với giao dịch vay tiền giữa chị Hoàng Thị Đ và chị K: Chị K khai khi vay 30.000.000 đồng của chị Đ, hai bên thỏa thuận lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày, chị K đã trả lãi cho chị Đ đến đầu năm 2022 là khoảng 50.000.000 đồng, bằng tiền mặt. Còn chị Hoàng Thị Đ khai chị Đ cho chị K vay 30.000.000 đồng, không thỏa thuận về lãi suất và không thu tiền lãi, đến tháng 9/2023 chị K không có tiền trả nợ nên Nguyễn Văn D đến gặp chị K để đòi nợ, chị K và anh D tự thỏa thuận lãi suất, chị Đ không tham gia và không biết việc thỏa thuận lãi suất như thế nào. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định ngoài lời khai, chị K không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ khác chứng minh việc thỏa thuận lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày cũng như việc chị K trả số tiền lãi là khoảng 50.000.000 đồng cho chị Đ nên không xem xét để xử lý đối với chị Hoàng Thị Đ về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6]. Về các biện pháp tư pháp:
[6.1]. Đối với số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng người vay Hoàng Thị K đã trả cho bị cáo D và số tiền lãi 9.271.233 đồng Nguyễn Văn D thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ Luật Dân sự. Đây là khoản tiền Nguyễn Văn D sử dụng cho chị K vay là công cụ phương tiện phạm tội và số tiền lãi là số tiền có được từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Tổng số tiền tịch thu sung vào ngân sách nhà nước Nguyễn Văn D phải nộp là 39.271.233 đồng, được trừ đi số tiền Nguyễn Văn D đã tự nguyện nộp trước 25.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000343 ngày 14/05/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang. Bị cáo D còn phải nộp số tiền 14.271.233 đồng.
[6.2]. Đối với số tiền thu lời bất chính Nguyễn Văn D đã thu của người vay Hoàng Thị K là 42.028.767 đồng. Quá trình điều tra Nguyễn Văn D đã trả lại cho chị K 42.028.767 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[6.3]. Đối với tài khoản bị phong tỏa: Duy trì Lệnh phong toả tài khoản số 358/LPT-CSHS đối với số tài khoản 8201205033703, chủ tài khoản Nguyễn Văn D, mở tại Ngân hàng N (A), Chi nhánh huyện Q, tỉnh Hà Giang với số tiền hiện có trong tài khoản là 3.578.527 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án.
[7] Về vật chứng:
- 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A18 của Nguyễn Văn D, đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc đòi tiền lãi, dùng để giao dịch chuyển khoản nhận tiền lãi hàng tháng nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- 01 tờ giấy vay tiền đề ngày 25/02/2019 giữa Hoàng Thị Đ và Hoàng Thị K là vật chứng của vụ án cần lưu theo hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 50.000.000 đồng.
Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Duy trì Lệnh phong toả tài khoản số 358/LPT-CSHS đối với số tài khoản 8201205033703, chủ tài khoản Nguyễn Văn D mở tại Ngân hàng N (A), Chi nhánh huyện Q, tỉnh Hà Giang với số tiền hiện có trong tài khoản là 3.578.527 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn D số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng người vay Hoàng Thị K đã trả cho bị cáo D và số tiền lãi 9.271.233 đồng Nguyễn Văn D thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ Luật Dân sự. Tổng số tiền truy thu sung vào ngân sách Nhà nước bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp là 39.271.233 đồng, được trừ đi số tiền Nguyễn Văn D đã tự nguyện nộp trước 25.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000343 ngày 14/05/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang. Bị cáo D còn phải nộp số tiền 14.271.233 đồng.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A18, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1 là 863178062540174, số IMEI 2 là 863178062540166.
Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 03/6/2025.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Trung Thọ |
Nguyễn Thị Hải Phương |
|
Hoàng Thị Huệ |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hải Phương |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: guyễn Văn Dũng cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
