|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 19/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn.
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trần Ngọc T (tên gọi khác: Đ), sinh năm: 1984, tại Phú Yên. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.
- Cha: Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1956 (đã chết); Mẹ: Trần Thị C, sinh năm 1960. Trú tại thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ hai.
- Vợ: Châu Thị Ngọc Á, sinh năm 1996, đã ly hôn. Con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022. Trú tại thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án, tiền sự: Không
Nguyễn Trần Ngọc T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa;
2. Phạm Quốc M (tên gọi khác: không), sinh năm: 1988, tại Đồng Nai. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
- Cha: Phạm Hữu T1, sinh năm 1951; Mẹ: Lê Thị U, sinh năm 1955. Trú tại Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Gia đình có 09 anh chị em, bị can là con thứ năm
- Vợ: Nguyễn Thị Mộng T2, sinh năm 1985; Con: Có 03 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2024. Trú tại: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Tiền án, tiền sự: Không
Phạm Quốc M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Văn P (tên gọi khác: X), sinh năm: 2004, tại Đồng Nai. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
- Cha: Trần Văn P1, sinh năm 1962; Mẹ: Tống Thị H, sinh năm 1972. Trú tại Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Gia đình có 04 anh em, bị can là con thứ tư
- Vợ: Dương Thị Bích N, sinh năm 2006. Con: Có 01 người con sinh năm 2021. Trú tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Tiền án, tiền sự: Không
Trần Văn P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. Trần Đình T3 (tên gọi khác: không), sinh ngày: 08/6/2007, tại Đồng Nai. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
- Cha: Trần Đình T4, sinh năm 1977; Mẹ: Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1978. Trú tại Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Gia đình có 03 chị em, bị can là con thứ hai
- Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không
Trần Đình T3 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đình T3: Bà Trần Thị Thúy N1, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt).
* Bị hại: Ông Đoàn Trung L, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt).
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (có mặt).
- Ông Phạm Quốc D, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 18/7/2023, Phạm Quốc M, Phạm Quốc D, Trần Văn P (cùng trú tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai); Trần Văn B, sinh năm 2009 (trú tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) và Trần Đình T3, sinh năm 2007 (trú tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai) đến nhà Nguyễn Trần Ngọc T, thuộc thôn E, xã T, huyện H. Khoảng 16 giờ cùng ngày, D rủ T, M, Pháp, T3, B về nhà D nhậu thì tất cả đồng ý nên D điều khiển xe ô tô con biển số 60A-780.47 chở Pháp, T3, B, còn T điều khiển xe mô tô biển số 86B5-370.72 chở M cùng nhau chạy theo đường Q đi về nhà D. Trên đường đi, D gặp anh Đoàn Trung L, sinh năm 1975 (trú tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đang điều khiển xe ô tô con biển số 61K-009.69 dừng ở lề đường, đi cùng ông L còn có bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1983 (trú tại ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai). Do trước đó ông L có mượn D số tiền 3.000.000 đồng chưa trả nên D dừng xe lại tới bảo ông L trả nợ nhưng ông L không trả mà điều khiển xe ô tô 61K-009.69, chở bà H1 chạy đi theo đường Q về hướng Đồng Nai nên D điều khiển xe ô tô chở Pháp, T3, B chạy theo ông L để đòi nợ. Lúc này, T điều khiển xe mô tô chở M chạy lên ngang hông phía bên phải của xe ông L để vượt qua nhưng ông L nghĩ rằng T và M chạy vượt lên để chặn xe mình nên ông L đánh tay lái xe ô tô 61K-009.69 sang phải, nhằm ngăn không cho xe mô tô của T vượt lên khiến xe ô tô 61K-009.69 xém va quẹt vào xe mô tô biển số 86B5-370.72 do T đang điều khiển, làm T loạng choạng tay lái xém té ngã nên T bức xúc điều khiển xe mô tô 86B5-370.72 chở M chạy đuổi theo ông L để hỏi chuyện. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến trước T5 thuộc thôn A, xã T, huyện H; Ông L điều khiển xe ô tô 61K-009.69 rẽ sang phần đường bên trái và dừng xe tại đầu hẻm đường vào Trạm Cảnh sát giao thông thì chị H1 mở cửa đi ra khỏi xe, còn D chạy lố qua một đoạn rồi điều khiển xe ô tô 60A-780.47 quay lại; T thì điều khiển xe mô tô 86B5-370.72 chở M chạy đến, dừng xe rồi cùng đi bộ tới bảo ông L xuống xe nhằm nói chuyện về việc ông L làm T xém té ngã xe nhưng ông L không xuống mà điều khiển xe ô tô 61K-009.69 de lùi ra hướng đường Q để chạy đi, cùng lúc này D điều khiển xe ô tô 60A-780.47 chạy tới dừng ở lề đường Quốc lộ 1A đầu hẻm vào Trạm Cảnh sát giao thông (khoảng cách từ đầu hẻm đến cổng Trạm Cảnh sát giao thông khoảng 20 mét). Vì bị vướng xe của D nên ông L de xe chạy về hướng cổng Trạm Cảnh sát gia thông. Do ông L không xuống nói chuyện mà điều khiển xe chạy đi nên T dùng mũ bảo hiểm và M dùng 01 cục đá chọi vào kính hông phía trước bên trái của xe ô tô 61K-009.69 nhưng tấm kính không bể. Thấy vậy, Phạm Quốc D bảo Trần Văn P và Trần Đình T3 xuống can ngăn T và Mạnh lại thì P và T3 bước xuống nhưng không can ngăn T và M. Khi điều khiển xe chạy vào hướng cổng Trạm Cảnh sát Giao thông được khoảng 03-04 mét thì ông L đánh lái quay đầu xe chạy ra hướng đường Q. Do ông L vẫn không xuống để nói chuyện về sự việc va chạm xảy ra mà điều khiển xe chạy đi nên T và M tức giận nhặt đá ở lề đường chọi vào xe ô tô 61K-009.69, Pháp thì chạy tới cầm tay nắm của cánh cửa trước bên phải và T3 chạy tới cầm tay nắm của cánh cửa trước bên trái xe ô tô 61K-009.69 kéo lại, lúc này đầu xe ô tô 61K-009.69 va chạm nhẹ vào đầu xe ô tô 60A-780.47 của D nên ông L de lùi xe lại thì T3 thả tay ra, còn P vẫn nắm kéo cánh cửa trước bên phải của xe ô tô 61K-009.69 khiến cánh cửa bung mở ra. Trong lúc ông L de lùi xe thì P nắm giữ cánh cửa xe đi lùi theo khoảng 03 mét thì bị bánh xe ô tô 61K-009.69 cán trúng bàn chân khiến bị sây sát nhẹ nên P chạy tới leo lên xe ô tô của D ngồi, lúc này ông L điều khiển xe chạy tới qua khoảng trống trước đầu xe ô tô của D rồi rẽ phải chạy ra đường Q về hướng P thì T3 nhặt 01 cục đá ở lề đường ném theo trúng hông bên trái của xe ô tô 61K-009.69, sau đó ông L điều khiển xe ô tô 61K-009.69 rẽ phải chạy vào dừng ở hẻm cổng phụ kề bên của Trạm Cảnh sát giao thông, còn nhóm của T giải tán ra về.
Sau sự việc, xe ô tô biển số 61K-009.69 của ông L bị hư hỏng một số bộ phận gồm: Kính chắn gió trước đầu xe bị nứt bể, trụ đứng ngoài khung kính chắn gió phía trước bên trái bị móp kích thước (3 x 1)cm, cửa trước bên trái bị móp kích thước (42 x 83 x 01)cm, kính cửa bên tài bị bể, khung ngoài kính chắn gió phía trước bên phải bị móp 02 vị trí có kích thước (5 x 3)cm và (10 x 3)cm, vè che mưa cửa trước bên phải bị bể, gương soi bên trong xe bị vỡ rời khỏi vị trí cố định và C1 hành trình gắn trong xe bị bung rời khỏi vị trí cố định, đầu nối điện bị gãy. Ngoài ra, trong lúc ngồi trong xe, ông L bị M ném 01 cục đá văng vào trúng người gây sây xát nhẹ ở tai trái, má trái, bả vai trái và cùi chỏ tay trái. Quá trình T, M, T3, P thực hiện hành vi làm hư hỏng xe ô tô nêu trên của ông L thì D và B ngồi trên xe ô tô của D, không tham gia cùng T, M, T3, Pháp và cũng không có hành vi xúi giục gì.
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận thì xe ô tô biển số 61K-009.69 và Camera hành trình gắn bên trong xe bị Nguyễn Trần Ngọc T và Phạm Quốc M đập phá làm hư hỏng có tổng giá trị thiệt hại là 3.325.000 đồng, trong đó:
- Xe ô tô biển số 61K-009.69 bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 3.100.000 đồng.
- Camera hành trình bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 225.000 đồng.
*Vật chứng vụ án gồm:
- 01 xe ô tô con hiệu Toyota biển số 61K-009.69 cùng giấy chứng nhận kiểm định, 01 gương soi bên trong của xe ô tô và 01 Camera hành trình hiệu HD 1080P màu xám – đen (đều bị hư hỏng). Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
- 01 cục đá xi măng màu xám có kích thước (25 x 20 x 4)cm và 02 cục đá nhựa đường màu đen có kích thước lần lượt là (20 x 14 x 5)cm và (12 x 7 x 5)cm. Viện KSND huyện H đã ra Quyết định chuyển vật chứng cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý, chờ xử lý.
*Về phần dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Trần Ngọc T và Phạm Quốc M đã bồi thường cho ông Đoàn Trung L số tiền 30.000.000 đồng và bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc L1 (chủ sở hữu xe ô tô biển số 61K-009.69) với số tiền 5.000.000 đồng là tiền chị L1 bị mất thu nhập trong khoảng thời gian xe ô tô 61K-009.69 bị tạm giữ để điều tra. Trong đó, T và M mỗi người bồi thường 17.500.000 đồng, ông L và bà L1 không yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Quốc M từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
- * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
- * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91 và Điều 100 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Trần Đình T3 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- * Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 cục đá xi măng màu xám có kích thước (25 x 20 x 4)cm và 02 cục đá nhựa đường màu đen có kích thước lần lượt là (20 x 14 x 5)cm và (12 x 7 x 5)cm. Hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024.
* Ý kiến của các bị cáo: Đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong cáo trạng. Các bị cáo không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
* Ý kiến của người bị hại: Không tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết rõ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; Thế nhưng các bị cáo đã bất chấp quy định pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 18/7/2023, tại đầu hẻm đường vào Trạm Cảnh sát giao thông T5 thuộc thôn A, xã T, huyện H, do bức xúc việc anh Đoàn Trung L trong lúc điều khiển xe ô tô biển số 61K-009.69 chạy lưu thông trên đường Q xém va quẹt vào xe mô tô biển số 86B5-370.72 do Nguyễn Trần Ngọc T điều khiển chở Phạm Quốc M khiến T loạng choạng tay lái xém té ngã xe và đã kêu ông L xuống xe để nói chuyện nhưng ông L không xuống mà điều khiển xe chạy đi nên T và M bức xúc, đã dùng mũ bảo hiểm và đá chọi vào xe ô tô biển số 61K-009.69, còn Trần Đình T3 và Trần Văn P mặc dù đã được Phạm Quốc D nhờ tới can ngăn T, M, nhưng T3 và P đã không can ngăn T và M mà lại tiếp nhận ý chí với T, M rồi cùng nhau tham gia dùng tay giật kéo cửa xe và dùng đá chọi vào xe ô tô 61K-009.69, sự việc khiến xe ô tô 61K-009.69 và Camera hành trình gắn bên trong xe bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại 3.325.000 đồng.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm và tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo chưa có sự bàn bạc, phân công vai trò hay có sự câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án, Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 đều là người thực hành trong việc gây thiệt hại về tài sản nên phải chịu chung hậu quả đã gây ra. Trong đó, Nguyễn Trần Ngọc T và Phạm Quốc M là người thực hành tích cực nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của mình.
[4.2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo T và M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Bị hại có đơn xin bãi nại, đề nghị không xử lý hình sự nên cả hai bị cáo T và M được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chiếu cố, giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.
[4.3] Đối với các bị cáo Trần Văn P và Trần Đình T3 có tham gia nhưng với vai trò không đáng kể, đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo Trần Văn P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trần Đình T3 chưa đủ 18 tuổi nên T3 được hưởng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo Trần Đình T3 có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp quy định pháp luật. Bản thân bị cáo Trần Đình T3 hiện là người chưa thành niên nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[5] Vật chứng thu giữ gồm: 01 cục đá xi măng màu xám có kích thước (25 x 20 x 4)cm và 02 cục đá nhựa đường màu đen có kích thước lần lượt là (20 x 14 x 5)cm và (12 x 7 x 5)cm. Đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, giá trị không đáng kể nên cần tịch thu tiêu hủy. Hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024.
[6] Về phần dân sự: Các bị cáo T và M đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết nữa.
[7] Các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3 phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025).
- Giao bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc M 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025).
- Giao bị cáo Phạm Quốc M cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025).
- Giao bị cáo Trần Văn P cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91 và Điều 100 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Đình T3 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.
- Giao bị cáo Trần Đình T3 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 cục đá xi măng màu xám có kích thước (25 x 20 x 4)cm và 02 cục đá nhựa đường màu đen có kích thước lần lượt là (20 x 14 x 5)cm và (12 x 7 x 5)cm. Hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024.
2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc T, Phạm Quốc M, Trần Văn P và Trần Đình T3, mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Đình Khương |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trần Ngọc Trâm, Phạm Quốc Mạnh, Trần Văn Pháp và Trần Đình Tài phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Ngọc Trâm 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025). Giao bị cáo Nguyễn Trần Ngọc Trâm cho Ủy ban nhân dân xã Tân Đức, huyện hàm Tân giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. - Xử phạt bị cáo Phạm Quốc Mạnh 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025). Giao bị cáo Phạm Quốc Mạnh cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. * Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Pháp 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025). Giao bị cáo Trần Văn Pháp cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
