Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hồng Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Nga;
  2. Bà Đặng Thị Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 03 năm 2025 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn K (tên gọi khác: T); giới tính: Nam; sinh ngày 28/8/1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 214 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn D, sinh năm: 1964 và bà Lê Thị L, sinh năm: 1965; Anh, chị, em: có 04 người (lớn nhất sinh năm: 1985; nhỏ nhất sinh năm: 2000); Vợ, con: Không có.

Tiền án: Ngày 02/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ xử phạt 07 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 18/01/2023 (bản án số 19/2018/HSST).

Tiền sự:

  • Ngày 07/11/2023, bị Công an xã B, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 22/8/2024, bị Công an xã B, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 23/10/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 17/12/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 14/11/2024, sau khi nhận thẻ căn cước tại Công an huyện C, Trần Văn K đi bộ ra ngoài đường L để đón xe buýt đi về nhà ở xã B, do đi bộ bị mệt nên K đã đi đến một bụi cây ven đường nằm nghỉ và ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 15/11/2024, K thức dậy và quan sát xung quanh thì nhìn thấy nhà của ông Nguyễn Văn T1 tại số A, ấp H, xã L, huyện C nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào trong nhà để tìm kiếm tài sản để trộm cắp. K đi đến nhìn thấy cửa phía sau nhà không khóa, nên đã lén lút đột nhập vào nhà từ cửa sau, rồi đi đến mở tủ lạnh lấy thức ăn và nước uống để sử dụng. Sau đó K tiếp tục đi xung quanh tìm kiếm tài sản rồi lấy 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78, màu xanh trên đầu tủ bàn thờ phật và 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A38 màu vàng đồng trên đầu tủ bàn thờ ông bà, rồi K bỏ 02 điện thoại di động vào túi quần và tiếp tục tìm kiếm tài sản nhưng không tìm thấy nên K đã tẩu thoát ra ngoài theo hướng đã đột nhập. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, K đón xe buýt đi lên khu vực Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và đi bộ vào con hẻm gặp 01 người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), rồi K lấy 02 cái điện thoại di động vừa trộm cắp được đưa cho người đàn ông để đổi lấy 01 gói ma túy loại Heroine, rồi đón xe về nhà tại xã B và một mình đã sử dụng hết số lượng ma túy trên.

Ngày 19/11/2024, ông Nguyễn Văn T1 đến Công an xã L, huyện C trình báo sự việc bị mất trộm 02 cái điện thoại di động, Công an xã L đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành kiểm tra, xác minh và mời Trần Văn K về trụ sở để điều tra làm rõ sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bị cáo Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Ngày 28/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Yêu cầu định giá tài sản số: 1166/YC-ĐTTH để định giá đối với 02 cái điện thoại di động mà Trần Văn K đã trộm cắp. Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.566.000 đồng (bốn triệu năm trăm sáu mươi sáu triệu đồng).

Ngày 27/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số: 938/QĐ-ĐTTH để trưng cầu hình ảnh đoạn video ghi lại hành vi của Trần Văn K trộm cắp tài sản có bị cắt ghép hay không. Kết luận giám định số 798/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định ký hiệu A (đã nêu tại mục II.1).

* Vật chứng thu giữ: Không có.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Văn T1 không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSCHCG, ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, truy tố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố và thừa nhận nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng; lời khai của bị cáo trùng khớp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn K về tội danh và điều khoản như bản Cáo trạng đã nêu.

Đề nghị áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề xử phạt bị cáo Trần Văn K hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Không có nên không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 15/11/2024, Trần Văn K đã thực hiện hành vi đột nhập vào nhà của ông Nguyễn Văn T1 tại số A, ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, để lén lút lấy trộm 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78, màu xanh và 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A38 màu vàng đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 4.566.000 đồng nên hành vi của bị cáo Trần Văn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo K về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt của các bị cáo:

Bị cáo đã trưởng thành có đủ năng lực, hành vi để nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật và được quy định trong Bộ luật hình sự nên cần phải xem xét, xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo K đã bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm là tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về quyết định hình phạt: Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp không lớn nhưng bị cáo K có nhân thân rất xấu từng bị kết án và nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không xem đó là bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội là xem thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian nhất định để mang tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên xử:

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn K: 02 (hai) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn K để đảm bảo chấp hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: Không có.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

    Bị cáo Trần Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an TP.HCM;
  • - VKSND H. Cần Giờ;
  • - THADS H. Cần Giờ;
  • - UBND xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - PV06 CA. TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Lưu Vp, hs vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hồng Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ ngày 14/11/2024, sau khi nhận thẻ căn cước tại Công an huyện C, Trần Văn K đi bộ ra ngoài đường L để đón xe buýt đi về nhà ở xã B, do đi bộ bị mệt nên K đã đi đến một bụi cây ven đường nằm nghỉ và ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 15/11/2024, K thức dậy và quan sát xung quanh thì nhìn thấy nhà của ông Nguyễn Văn T1 tại số A, ấp H, xã L, huyện C nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào trong nhà để tìm kiếm tài sản để trộm cắp. K đi đến nhìn thấy cửa phía sau nhà không khóa, nên đã lén lút đột nhập vào nhà từ cửa sau, rồi đi đến mở tủ lạnh lấy thức ăn và nước uống để sử dụng. Sau đó K tiếp tục đi xung quanh tìm kiếm tài sản rồi lấy 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78, màu xanh trên đầu tủ bàn thờ phật và 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A38 màu vàng đồng trên đầu tủ bàn thờ ông bà, rồi K bỏ 02 điện thoại di động vào túi quần và tiếp tục tìm kiếm tài sản nhưng không tìm thấy nên K đã tẩu thoát ra ngoài theo hướng đã đột nhập. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, K đón xe buýt đi lên khu vực Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và đi bộ vào con hẻm gặp 01 người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), rồi K lấy 02 cái điện thoại di động vừa trộm cắp được đưa cho người đàn ông để đổi lấy 01 gói ma túy loại Heroine, rồi đón xe về nhà tại xã B và một mình đã sử dụng hết số lượng ma túy trên. Ngày 19/11/2024, ông Nguyễn Văn T1 đến Công an xã L, huyện C trình báo sự việc bị mất trộm 02 cái điện thoại di động, Công an xã L đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành kiểm tra, xác minh và mời Trần Văn K về trụ sở để điều tra làm rõ sự việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bị cáo Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger