TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày 15-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Trưởng – Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm;
Ông Phạm Minh Tấn – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Đình T; tên gọi khác: không; sinh ngày 17 tháng 12 năm 2007, tại H, Bình Định; nơi cư trú: thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình C (sinh năm 1968); con bà: Nguyễn Thị Cẩm C1 (sinh năm 1971); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Họ và tên: Trương Đặng Bá M; tên gọi khác: không; sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007, tại H, Bình Định; nơi cư trú: thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Bá T1 (sinh năm 1971); con bà: Đặng Thị Mộng T2 (sinh năm 1975); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đình T: Ông Nguyễn Đình C (cha ruột), sinh năm 1968;
Nơi cư trú: Thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trương Đặng Bá M: Ông Trương Bá T1 (cha ruột), sinh năm 1971;
Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M: Ông Phạm Minh V – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B;
Địa chỉ: Trung tâm T7 thị trấn A, huyện A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bị hại:
- Bà Đinh Thị T3, sinh năm 1969;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Bảo T4, sinh ngày 08/3/2008;
Người đại diện hợp pháp: Bà Bùi Nữ Diễm T5, sinh năm 1979 (mẹ ruột);
Cùng trú tại: Thôn M, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T6, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Đ, thôn N, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Quang Q, sinh năm 1971;
Nơi cư trú: Thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 05 phút ngày 04/11/2024, Nguyễn Đình T điều khiển xe đạp điện màu đỏ - đen đến nhà Trương Đặng Bá M để chở M đi học thêm ở thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Khi ra ngoài đường bê tông trước ngõ vào nhà M tại thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định thì T nảy sinh ý định tìm bình điện của xe đạp điện trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài nên T nói với M “Nghỉ học đi trộm bình không”, M nghe vậy thì đồng ý và trả lời “Ừ”. Triều điều khiển xe đạp điện chở M đi theo hướng từ thôn P, xã Â, huyện H hướng đến thị trấn T, huyện H để tìm xe điện của người dân dựng sơ hở để trộm cắp bình. Khi đến đoạn đường trước trụ sở Công an xã Â, huyện H thì T chở M rẽ vào đoạn đường cánh đồng hướng về “G" thuộc thôn T, xã Â, huyện H. Đi được một đoạn đến gần cống thoát nước thuộc thôn T, xã Â, huyện H thì T và M thấy có 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ - đen của bà Đinh Thị T3 dựng trên lề đường bê tông trước đó và xung quanh không có người, T chở M đến gần xe đạp điện của bà T3 rồi dừng xe lại. Lúc này, khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày 04/11/2024, M xuống xe, dùng hai tay cầm gác chân của xe đạp điện của bà T3 rồi kéo giật mạnh lên phía trên thì hộp đựng bình điện (bên trong có 04 bình điện) trong xe đạp của bà T3 bung ra. M xách hộp đựng bình điện đã trộm để nằm ngang trên gác chân trước xe đạp điện của T rồi T điều khiển xe chở M đi đến tiệm thu mua phế liệu của ông Nguyễn Quang Q ở thôn A, xã Â, huyện H để bán bình đã trộm. Triều chở M đi vào trong sân của tiệm phế liệu gặp ông Q thì M hỏi “Chú ơi, con bán bình”, ông Q hỏi lại “B ở đâu đấy”, T trả lời “B cũ từ xe của con thay bỏ đi”, nghe vậy thì ông Q đồng ý mua. M xách hộp đựng bình điện đã trộm đem vào cân rồi ông Q đưa cho M số tiền 430.000 đồng. T và M chia nhau mỗi người 215.000 đồng.
Triều tiếp tục điều khiển xe chở M đi theo hướng đến thôn M, xã Â, huyện H tìm bình xe điện để trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường bê tông xi măng bên hông trường Trung học phổ thông V1 ở thôn M, xã Â, huyện H thì T, M thấy có 01 xe máy điện màu đỏ - đen được Võ Bảo T4 dựng trên lề đường trước đó và xung quanh không có người. Triều chở M đến gần xe máy điện của T4, M ngồi lên xe máy điện của T4 dùng chân đẩy xe đi một đoạn khoảng hơn 10m đến tại đám đất trống trước sân bóng đá mini của ông Lê Văn Q1 (thôn M, xã Â, huyện H) thì dừng lại. Lúc này khoảng 16 giờ 27 phút cùng ngày, T cùng M dùng tay giật hộp bình điện trong xe máy điện của T4 bung ra. M xách hộp bình điện đã trộm để ở gác chân phía trước xe đạp điện rồi T điều khiển xe chở M đi về nhà.
Trên đường đi khi đến đoạn đường cánh đồng thuộc thôn N, xã Â, huyện H thì T, M thấy có 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ - đen của bà Nguyễn Thị Ngọc T6 dựng trước đó và xung quanh không có người. Lúc này khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, T điều khiển xe chở M đi đến gần chỗ dựng xe đạp điện của bà T6 rồi M dùng tay cầm gác chân giật mạnh lấy trộm hộp đựng bình điện (bên trong có 04 bình điện) trong xe đạp điện của bà T6. M xách hộp bình đã trộm ngồi lên phía sau ôm giữ rồi T điều khiển xe chở M đem 01 hộp đựng bình điện đã trộm cắp được đem về cất giấu ở phòng buồng của T rồi T chở M về nhà.
Tang vật tạm giữ: 02 (hai) hộp nhựa đựng bình điện có đặc điểm tương tự nhau: màu đen, kích thước (32x21)cm, bên trong mỗi hộp nhựa có 04 (bốn) bình điện nhỏ có đặc điểm tương tự nhau: màu đỏ - đen, kích thước (10x15)cm (tổng cộng có 08 bình điện nhỏ), đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe đạp điện có màu đỏ - đen, không rõ nhãn hiệu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; tiền mặt 330.000 đồng (trong đó: tạm giữ của Nguyễn Đình T số tiền 215.000 đồng; Trương Đặng Bá M số tiền 115.000 đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe đạp điện có màu Đỏ - Đen, không rõ nhãn hiệu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Đối với 01 (một) hộp nhựa đựng bình điện có đặc điểm: màu đen, kích thước (32x21)cm; bên trong mỗi hộp chứa 04 (bốn) bình điện nhỏ kích thước (10x15)cm, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Đối với số tiền 100.000 đồng (số tiền T và M chia nhau từ việc bán bình điện trộm cắp được của bà Đinh Thị T3), bị cáo Trương Đặng Bá M đã sử dụng tiêu xài cá nhân nên Cơ quan điều tra không tạm giữ được.
Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 02 (hai) hộp nhựa đựng bình điện có đặc điểm tương tự nhau: màu đen, kích thước (32x21)cm, bên trong mỗi hộp nhựa có 04 (bốn) bình điện nhỏ kích thước (10x15)cm (tổng cộng có 08 bình điện nhỏ), đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, có giá trị: 3.800.000 đồng; 01 (một) hộp nhựa đựng bình điện có đặc điểm: màu đen, kích thước (32x21)cm; bên trong mỗi hộp chứa 04 (bốn) bình điện nhỏ kích thước (10x15)cm, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (không tạm giữ được), có giá trị: 1.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 5.600.000 đồng.
Về dân sự: Gia đình các bị cáo Nguyễn Đình T và Trương Đặng Bá M đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSHA ngày 21/02/2025 của VKSND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M đã thừa nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tại phiên tòa, các bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M phạm tội “Trộm cắp tài sản";
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T có mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Đặng Bá M có mức án từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại vật chứng vụ án cho bị hại. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 330.000 đồng.
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M trình bày luận cứ bào chữa: Về tội danh thống nhất như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M mỗi bị cáo có mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, VKSND huyện Hoài Ân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại bà Đinh Thị T3, bà Nguyễn Thị Ngọc T6 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai đầy đủ của họ. Việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 04/11/2024, tại các xã Â, xã Â, xã Â huyện H, tỉnh Bình Định, lợi dụng sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Đình T và Trương Đặng Bá M đã lén lút chiếm đoạt lần lượt 03 hộp nhựa đựng bình điện của Đinh Thị T3, Võ Bảo T4, Nguyễn Thị Ngọc T6 có tổng giá trị 5.600.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức, các bị cáo đang là học sinh, tuổi trẻ nên suy nghĩ nông cạn, hành vi của các bị cáo chỉ bộc phát nhất thời, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể trước khi phạm tội nên khi quyết định hình phạt, các bị cáo cùng chịu trách nhiệm với vai trò ngang nhau và có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu cá nhân, Nguyễn Đình T là người nảy sinh ý định trộm cắp, Trương Đặng Bá M ủng hộ ý định này và cùng tham gia thực hiện. Nên cần phải xử mức án nghiêm khắc để các bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt và làm gương cho những người khác.
[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại và các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M chưa đủ 18 tuổi. Do đó, cần áp dụng các quy định của pháp luật về người dưới 18 tuổi phạm tội khi xem xét, quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Nguyễn Đình T và Trương Đặng Bá M đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe đạp điện có màu Đỏ - Đen, không rõ nhãn hiệu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong cho người quản lý tài sản hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 02 (hai) hộp nhựa đựng bình điện có đặc điểm tương tự nhau: màu đen, kích thước (32x21)cm, bên trong mỗi hộp nhựa có 04 (bốn) bình điện nhỏ kích thước (10x15)cm (tổng cộng có 08 bình điện nhỏ), đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong là vật chứng vụ án. Tuy nhiên, gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với số tiền 330.000 (ba trăm ba mươi nghìn) đồng là số tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Các vấn đề khác:
[8.1] Đối với Nguyễn Quang Q là người mua 01 (một) hộp nhựa đựng bình điện do M và T trộm cắp được mà có. Tuy nhiên T, M không nói và Q không biết hộp nhựa đựng bình điện đó là tài sản trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[8.2] Đối với Nguyễn Đình C, Nguyễn Thị Cẩm C1 (cha, mẹ ruột của T) – là chủ sở hữu xe đạp điện màu đỏ - đen mà T và M sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Khi T, M sử dụng xe đạp điện nêu trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì Chánh, C1 hoàn toàn không biết. Ngoài ra, sau khi trộm cắp được 02 (hai) hộp nhựa đựng bình điện T đem về cất giấu ở phòng buồng tại nhà thì C, C1 hoàn toàn không biết việc này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Đình C và Nguyễn Thị Cẩm C1 là phù hợp.
[9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[10] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[11] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M;
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M đồng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh B nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao Bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Đình T cho Ủy ban nhân dân xã Â1, huyện H, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục.
- Xử phạt bị cáo Trương Đặng Bá M 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh B nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao Bản án.
Giao bị cáo Trương Đặng Bá M cho Ủy ban nhân dân xã Â1, huyện H, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh B nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao Bản án.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) hộp nhựa đựng bình điện có đặc điểm tương tự nhau: màu đen, kích thước (32x21)cm, bên trong mỗi hộp nhựa có 04 (bốn) bình điện nhỏ kích thước (10x15)cm (tổng cộng có 08 bình điện nhỏ). (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân);
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 330.000 (ba trăm ba mươi nghìn) đồng. (Theo ủy nhiệm chi lập ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân).
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình T, Trương Đặng Bá M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hồng Nam |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Điều 173 Bộ luật Hình sự Trộm cắp tài sản
