Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 11/2025/HS-ST

Ngày: 14/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
  • 2/ Ông Nguyễn Kiên Hiển
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Dung - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Hải Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/HSST-QĐ ngày 15/01/2025 đối với bị cáo:

Hà Việt A, sinh năm 1991; tại TP .; nơi thường trú: số A đường P, Phường B, quận T, TP .; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T và bà Tạ Thị Anh Đ; tiền án: không; tiền sự: không, bị tạm giam từ ngày 30/8/2024; bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Hoàng N, sinh 1999 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: số D đường số A, Phường D, Quận H, TP .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Lê Trung T1, sinh năm 2004 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: số B đường N, phường N, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/5/2023, anh Nguyễn Văn Hoàng N lên mạng xã hội Facebook liên hệ với tài khoản có tên “Vy Cherry” của Hà Việt A hỏi mua xe máy cũ hiệu Honda Vario biển số 59H1 – 729.73 với giá 29.000.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh N cùng vợ là chị A L Giá gặp Việt A tại địa chỉ 1 đường P, Phường B, quận T để mua xe. Việt A bán cho anh N xe Honda Vario biển số 59H1 - 729.73 kèm theo giấy tờ xe tên Phạm Mỹ L1. Sau hai tuần sử dụng, do thấy kết cấu của chiếc xe đã bị thay đổi nên anh N yêu cầu Việt A đổi cho anh N chiếc xe khác, Việt A đổi cho anh N chiếc xe Vario khác (không rõ biển số). Anh N nói Việt A làm thủ tục sang tên đổi chủ chiếc xe này cho anh N, nhưng do không tìm được chủ sở hữu chiếc xe nên Việt A tiếp tục thỏa thuận đổi cho anh N 01 chiếc xe Honda Vario, biển số 59D2-385.15 do Tô Trọng Hoàng P đứng tên chủ sở hữu. Việt Anh biết mình không có khả năng sang tên đổi chủ chiếc xe trên nhưng vẫn nói anh N đưa thêm 8.000.000 đồng để làm thủ tục. Việt Anh lên mạng tìm đặt mua 01 giấy đăng ký xe giả mang tên Nguyễn Văn Hoàng N với giá 5.000.000 đồng rồi đưa lại cho anh N. Đến khoảng tháng 8/2023, anh N kiểm tra thì phát hiện giấy đăng ký xe do Việt A đưa là giả nên đã trả lại xe và yêu cầu Việt A hoàn lại số tiền 37.000.000 đồng. Sau đó, Việt A đưa cho anh N chiếc xe Honda Click, biển số 59T2 - 419.35 để anh N sử dụng trong lúc chờ Việt A bán chiếc xe Honda Vario, biển số 59D2 - 385.15 lấy tiền trả lại cho anh N. Ngày 13/11/2023, Việt A hẹn anh N cùng chị A L Giá đến địa chỉ B đường N, phường V, Quận C để trả lại tiền bán xe. Tại đây, do vợ chồng anh N không sử dụng tài khoản ngân hàng nên đã gọi điện cho chị Huỳnh Thị Thùy D (bạn chị A Ly G) để nhờ chị D nhận tiền chuyển khoản của Việt A, Việt A không có tiền trả nhưng vẫn cầm điện thoại bấm và nói dối là đã chuyển tiền cho chị D. Sau đó, Việt A nói anh N đưa chìa khóa xe Honda Click, biển số 59T2 - 419.35 để đi cất xe rồi lái xe bỏ đi mất. Biết mình bị lừa đảo nên anh N đã đến Công an phường V, Quận C trình báo sự việc. Công an phường V, Quận C đã lập hồ sơ ban đầu, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q1 thụ lý giải quyết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q1, Việt A thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, đối với 03 chiếc xe Vario gồm 01 xe biển số 59H1 - 729.73, 01 xe không rõ biển số và 01 xe biển số 59D2 - 385.15, sau khi nhận lại xe từ anh N, Việt A đã bán và dùng tiền tiêu xài cá nhân hết. Lời khai của Việt A phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập và thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Kết quả xác minh đối với chiếc xe biển số 59H1 – 729.73, do anh Nguyễn Văn H đứng tên chủ sở hữu, hiện anh H đang sử dụng chiếc xe trên và từ trước đến nay chưa bị mất trộm hoặc mua bán chiếc xe. Đối với chiếc xe biển số 59D2 – 385.15, do anh H đứng tên chủ sở hữu và đã ủy quyền cho anh Trần Văn Q sử dụng. Hiện anh Q đi xuất khẩu lao động nên Cơ quan điều tra không tiến hành ghi được lời khai. Đồng thời theo lời khai của Việt A, đối với 03 chiếc xe Việt Anh đã bán, không xác định được người mua nên Cơ quan điều tra không có cơ sở truy xét làm rõ để xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số 2375/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng K Công an T2 kết luận: Xe máy biển số 59T2 – 419.35, số khung nguyên thủy MLHJF3509L5752961 (không bị đục lại số), số máy nguyên thủy: JF35E-1052961 (không bị đục lại số) (bút lục số 76).

Vật chứng của vụ án: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Click 125i, biển số 59T2 - 419.35, số khung MLHJF3509L5752961, số máy JF35E-1052961. Qua xác minh chủ sở hữu là anh Trần Lê Trung T1, anh T1 cho biết mua chiếc xe vào năm 2020 với giá 75.000.000 đồng. Ngày 28/10/2023, anh T1 bị mất trộm chiếc xe tại sảnh chung cư địa chỉ số D đường Đ, phường P, Quận G. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q1 đã trao đổi, xác minh thông tin vụ việc Trộm cắp tài sản với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q2 được biết trên địa bàn Quận G chỉ có địa chỉ chung cư S, số D đường Đ, phường P, Quận G và từ ngày 28/10/2023 đến nay Công an phường P, Quận G không tiếp nhận trình báo mất trộm xe máy như trên (Đã nhập kho vật chứng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q1 đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1509 ngày 26/11/2024 (bút lục số 77).

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Hoàng N yêu cầu Hà Việt A bồi thường số tiền 37.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 16/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Hà Việt A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Hà Việt A từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

  • - Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 37.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến tháng 7/2023, lợi dụng lòng tin và nhu cầu mua xe máy của anh Nguyễn Văn Hoàng N, bị cáo Hà Việt A đã thực hiện các hành vi gian dối như bán các xe máy không chính chủ, hứa hẹn việc sang tên chính chủ, lên mạng để mua giấy đăng ký xe giả đưa cho anh N. Khi bị anh N phát hiện, bị cáo tiếp tục đưa cho anh N 01 chiếc xe máy hiệu Honda Click 125i, biển số 59T2 - 419.35 để anh N đi lại nhằm tạo lòng tin rồi lừa lấy lại chiếc xe trên và bị cáo đã chiếm đoạt tổng số tiền là 37.000.000 đồng. Hành vi bị cáo phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét hành vi trên đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm theo pháp luật và để phòng ngừa chung cho xã hội và thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Vật chứng vụ án: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Click 125i, biển số 59T2 - 419.35, số khung MLHJF3509L5752961, số máy JF35E-1052961. Qua xác minh chủ sở hữu là anh Trần Lê Trung T1, anh T1 cho biết mua chiếc xe vào năm 2020 với giá 75.000.000 đồng. Ngày 28/10/2023, anh T1 bị mất trộm chiếc xe tại sảnh chung cư địa chỉ số D đường Đ, phường P, Quận G. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q1 đã trao đổi, xác minh thông tin vụ việc Trộm cắp tài sản với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q2 được biết trên địa bàn Quận G chỉ có địa chỉ Chung cư S, số D đường Đ, phường P, Quận G và từ ngày 28/10/2023 đến nay Công an phường P, Quận G không tiếp nhận trình báo mất trộm xe máy như trên. Nên giao xe cho Cơ quan thi hành án Dân sự tiếp tục xác minh chủ sở hữu. Trường hợp xác định ông Trần Lê Trung T1 là chủ sở hữu xe thì giao trả xe trên cho ông Trần Lê Trung T1.

[7] Trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 37.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường như yêu cầu nên ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.

[8] Đối với hành vi lên mạng mua giấy đăng ký xe giả để đưa cho anh N. Do chỉ có lời khai của bị cáo Việt A, Cơ quan điều tra không thu được giấy tờ giả, không xác định được đối tượng làm giả giấy tờ cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Hà Việt A đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Việt A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn Hoàng N số tiền 37.000.000 đồng.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Giao Chi cục thi hành án Dân sự Quận 3 làm thủ tục thông báo trên báo để tìm và trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Click 125i, biển số 59T2 - 419.35, số khung MLHJF3509L5752961, số máy JF35E-1052961 cho chủ sở hữu hợp pháp. Trường hợp xác định ông Trần Lê Trung T1 là chủ sở hữu xe thì giao trả xe trên cho ông Trần Lê Trung T1. Nếu quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày chủ sở hữu hợp pháp không đến nhận xe thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Tang vật Chi cục thi hành án Dân sự Quận 3 được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKS-HS ngày 16/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3).

Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 1.850.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Áp dụng các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - Công an Quận 3;
  • - Nhà tạm giữ CAQ.3;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.3;
  • - UBND P.2, Q.Tân Bình, TP. HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Huệ Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Việt A - “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger