|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 12-11-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo
2. Ông Lưu Đình Túy – Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy V, sinh ngày 20/4/2008 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng); CCCD số: [...], cấp ngày 18/6/2022; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số nhà E đường L, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy H và bà Nguyễn Thị Lan P; vợ; con: chưa.
Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: số nhà E đường L, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Ngọc T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T (có mặt)
1
- Bị hại: Cháu Hoàng Minh Đ, sinh ngày: 19/5/2011 (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tấn D, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: số A T, phường H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 04/8/2025, Nguyễn Quốc Việt A, sinh ngày 1/4/2011 trú tại phố Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe máy điện BKS 36MDD1-699.73 của Nguyễn Duy V chở Nguyễn Duy V và Nguyễn Trọng H2, sinh ngày 16/3/2010 trú tại phố Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa đến hồ nước dưới chân núi S thuộc phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để tắm. Đến 18 giờ 08 phút, cả 3 tắm xong lên bờ đi về. V điều khiển xe đi trước một đoạn thì thấy xe máy điện BKS 36MĐ1-696.95 của Hoàng Minh Đ, sinh ngày 19/5/2011 trú tại phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa dựng bên lề đường không có người trông coi. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, H2 và Việt A đi bộ đến, V nói với H2 và Việt A là “Lại mở cốp xe này xem có gì không”. H2 và Việt A không nói gì, ngầm hiểu là đồng ý. H2 và Việt A đứng cảnh giới còn V đi lại gần xe máy điện, dùng tay trái kéo mạnh yên xe, tay phải luồn vào bên trong cốp lấy 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro màu vàng 128G của Đ. Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại trên, H2 điều khiển xe máy điện của V chở Việt A và V đi về. Trên đường đi, V bật chế độ máy bay của điện thoại và tháo sim vứt dọc đường và cả 3 cùng thống nhất giấu chiếc điện thoại tại nghĩa trang P1, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa. Đến nghĩa trang, V và H2 cùng đi vào bên trong để giấu chiếc điện thoại cạnh một ngôi mộ rồi ra về. Đến tối cùng ngày, V chở H2 bằng xe máy điện của V đến nghĩa trang G để lấy điện thoại đem về nhà V cất giấu.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, H2 chở V bằng xe máy điện của V đến cửa hàng T1 địa chỉ B T, phường H, tỉnh Thanh Hóa đế bán điện thoại. Tại đây, H2 đứng bên ngoài đợi, V gặp anh Nguyễn Tấn D (là nhân viên của quán điện thoại), sinh năm 1998, trú tại A T, phường H, tỉnh Thanh Hóa và nói với D đây là điện thoại của V để lâu không dùng nên muốn bán. D nghĩ V nói thật nên đồng ý mua với giá 4.400.000 đồng. D nhờ Bùi Trí V1 sinh năm 1997 trú tại phường H, tỉnh Thanh Hóa chuyển tiền vào tài khoản MB 0389758199 mang tên Nguyễn Duy
2
V số tiền 4.400.000 đồng. Sau đó, V đi đến quán T2 trên đường H của nhà chị Lưu Thị Q, sinh năm 1989 trú tại phường H, tỉnh Thanh Hóa để đổi 2.000.000 đồng tiền mặt, chia cho Việt A 800.000 đồng và H2 700.000 đồng và V là 2.900.000 đồng. Số tiền được chia thì V, H2 và Việt A chưa tiêu gì.
Ngày 12/8/2025, Nguyễn Quốc Việt A đã giao nộp 800.000 đồng; Nguyễn Trọng H2 đã giao nộp 700.000 đồng; Nguyễn Duy V đã giao nộp 2.900.000 đồng là số tiền bán điện thoại trộm cắp được. Nguyễn Duy V còn giao nộp 01 xe máy điện nhãn hiệu ESPERO màu xanh, BKS 36MĐ1-699.73 và 01 chứng nhận đăng ký xe moto, xe gắn máy số 3601579, tên chủ xe Nguyễn Duy V.
Ngày 12/8/2025, anh Nguyễn Tấn D đã giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro, dung lượng 128G màu vàng, số máy MQO83TA/A, IMEI 351553263334925 đã qua sử dụng, không có sim là điện thoại cho Nguyễn Duy V bán cho D vào sáng ngày 05/8/2025.
Kết luận định giá tài sản số 310/KL-HĐĐG ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro, dung lượng 128G màu vàng có giá trị 12.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã Trưng cầu giám định video thu được khi trích xuất camera liên quan đến vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 3609/KL-KTHS ngày 22/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video lưu trong các mẫu vật gửi giám định.
Đối với 01 chiếc sim được lắp trong điện thoại Iphone 14 Pro của Hoàng Minh Đ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành truy tim nhưng không tìm thấy.
* Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro, dung lượng 128G màu vàng là tài sản của Hoàng Minh Đ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho chủ sở hữu là Hoàng Minh Đ.
- - Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu ESPERO màu xanh, BKS 36MĐ1-699.73 và 01 chứng nhận đăng ký xe moto, xe gắn máy mang tên Nguyễn Duy V: quá trình điều tra xác định chiếc xe máy điện không phải công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Duy V.
- - Đối với 02 USB chứa 02 tệp video ghi lại nội dung vụ việc được đưa vào hồ sự vụ án.
3
- - Đối với số tiền 4.400.000 đồng là số tiền Nguyễn Duy V bán điện thoại trộm cắp được, cơ quan điều tra đã nhập số tiền trên vào Kho bạc nhà nước khu vực XI, tỉnh Thanh Hóa để bảo quản theo quy định.
* Về phần dân sự:
Bị hại Hoàng Minh Đ đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu,đề nghị gì thêm về dân sự. V đã trả lại cho anh Nguyễn Tấn D số tiền 4.400.000 đồng, anh D đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
* Về những vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Quốc Việt A và Nguyễn Trọng H2: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đều dưới 16 tuổi nên không xem xét xử lý hình sự. Công an phường Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Quốc Việt A và Nguyễn Trọng H2 về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức cảnh cáo.
Đối với anh Nguyễn Tấn D do không biết chiếc điện thoại mua của V là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý.
Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSKV1 ngày 14 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Duy V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Duy V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng nêu trên.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy V từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng – 18 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng các Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo V số tiền 4.400.000 đồng. Bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo và áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo
4
ở mức hình phạt thấp nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được lao động học tập phấn đấu rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo đồng ý với bào chữa và không tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Đối với việc vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng, đồng thời tại phiên tòa bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Nhận thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ vào các Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 18 giờ 08 phút ngày 04/8/2025, tại khu vực chân núi S, thuộc phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa, do cần tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng sơ hở của cháu Hoàng Minh Đ nên Nguyễn Duy V cùng với Nguyễn Quốc Việt A và Nguyễn Trọng H2 đã trộm cắp 01 điện thoại Iphone 14 Pro màu vàng của cháu Đ có giá trị 12.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
5
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp hậu quả, lợi dụng sự sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội khi chỉ 16 tuổi 11 tháng, còn là học sinh (có xác nhận của Trường THPT T3); bị cáo có nhân thân tốt. Sau khi bị phát hiện bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) về nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; khoản 1 Điều 119, Điều 124, Khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy: Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, hiện đang là học sinh, có nơi cư trú ổn định, phạm tội khi chưa thành niên nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về địa phương nơi bị cáo cư trú cùng gia đình giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
6
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 4.400.000 đồng là số tiền Nguyễn Duy V bán điện thoại trộm cắp được, do bị cáo đã bồi thường số tiền 4.400.000đ cho anh D, anh D không có đề nghị gì thêm nên trả lại cho bị cáo V số tiền 4.400.000đ.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 119, Điều 124; Khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Duy V cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy V số tiền 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi số 2512 ngày 20/10/2025 đơn vị trả tiền: Công an tỉnh T, đơn vị nhận tiền: Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Duy V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Hà |
8
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy V
