Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 12 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào Vi .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Chinh.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Loan.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Năm, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, số A T, phường P, quận T, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1988 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); CCCD số [...] cấp ngày 12/01/2022; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T1, sinh năm 1956 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1958; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án (Ngày 21/3/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa thiên Huế (cũ) xử phạt 20.000.000 đồng và buộc nộp án phí 200.000 đồng về tội “Đánh bạc”). Ngày 22/3/2024 bị cáo nộp toàn bộ tiền phải thi hành án tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang (chưa được xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Hữu D, sinh năm 1971 và bà Phan Thị M, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Ông D có mặt, bà M vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Có mặt.
  3. Anh Trần Nhơn M1, sinh năm 1968 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1970. Nơi cư trú: F P, phường T, quận T, thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Vắng mặt.
  5. Chị Lê Thị Kim A, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Quang Đ, sinh năm 1984 và chị Ngô Thị H1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Anh Đ có mặt, chị H1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 ngày 10 tháng 7 năm 2024, Lê Văn T đã có 01 tiền án về tội đánh bạc (chưa được xóa án tích) đến nhà anh Lê Quang Đ (Sinh năm 1984) tại tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P uống cà phê và xem bóng đá thì gặp Nguyễn Thanh T3 (Sinh năm 1969; trú tại thôn V, xã P, huyện P), Trần Nhơn M1 (Sinh năm 1968; trú tại F P, phường T, thành phố H) và Lê Hữu D (Sinh năm 1971; trú tại tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P) cũng đến để xem trực tiếp bóng đá EURO - 2024. Trong lúc chờ trận bóng đá diễn ra thì cả 04 đối tượng rủ nhau đánh bạc cá cược thắng thua bằng tiền, hình thức đánh bài phỏm. Lúc đó Lê Quang Đ lấy 01 bộ bài Tulokho (bài Tây) đã cũ (có sẵn ở quán); 01 cái mền màu cam trong nhà để các đối tượng sử dụng đánh bài và 01 hộp gỗ (hộp dùng đựng trà, có sẵn ở quán) để đựng tiền xâu.

Cách thức đánh bài phỏm như sau: 04 người sử dụng 01 bộ bài Tây gồm 52 lá, chia cho mỗi người 09 lá, riêng người chia bài được chia 10 lá và sẽ đánh trước 01 lá, phần bài còn lại sẽ đặt giữa chiếu bạc. Nếu lá bài đánh xuống người bên cạnh kết hợp với các lá bài của mình đang có gồm ít nhất 03 lá giống nhau hoặc liền nhau cùng chất (chất cơ, rô, chuồng, bích) thì được ăn lá bài đó để tạo thành “phỏm” và đánh ra lá bài khác cho người kế tiếp, nếu không ăn được thì bốc thêm 01 lá trên cùng ở phần bài chưa chia rồi đánh ra 01 lá cho người kế tiếp. Mỗi ván bài người chơi được bốc và đánh tối đa 04 lượt thì kết thúc và tính điểm: quá trình chơi nếu người nào cầm bài trên tay có 09 lá tạo thành “phỏm” được gọi à “Ừ” thì thắng, ván bài lúc này cũng kết thúc; ván bài kết thúc không có người ù thì mỗi người sẽ tính điểm các lá bài của mình không tạo ra phỏm so điểm, người thắng sẽ là người có số điểm ít nhất (quy ước lá ký hiệu A là 01 điểm; lá ký hiệu 2 là 02 điểm, lá ký hiệu 3 là 03 điểm... đến lá ký hiệu K là 13 điểm), người còn lại sẽ thua số tiền lần lượt theo thứ tự nhì, bạ, tư mà các bên thống nhất tương ứng 20.000 đồng, 40.000 đồng và 60.000 đồng, nếu bài người nào không có phỏm sẽ thua 80.000 đồng; người nào bị ăn 01 lá bài thường (bị ăn gà) thì thua 20.000 đồng, lá bài chốt thì sẽ thua 80.000 đồng. Ngoài ra người thắng cầm bài ù thì người còn lại thua 100.000 đồng, người thắng ù trích ra bỏ vào hộp gỗ đựng xâu 50.000 đồng. Tiền xâu thỏa thuận sẽ dồn lại dùng trả tiền nước ở quán và cùng nhau mời cả Đ đi ăn sáng. Trong lúc các đối tượng đang sát phạt nhau thì Đ ngồi xem đánh bài và cũng để xem đá bóng, đến kết thúc trận đá bóng thì Đ vào nhà ngủ, các đối tượng vẫn ngồi đánh bạc.

Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, lúc các đối tượng vẫn đánh bạc thì lực lượng chức năng kiểm tra, làm việc. Thời điểm kiểm tra phát hiện, thu giữ:

  • + Trên chiếu bạc có số tiền 3.100.000 đồng (tại vị trí T3 650.000 đồng; D 900.000 đồng; T 1.000.000 đồng; Mâng 550.000 đồng); 01 (một) bộ bài Tây gồm 52 lá bài đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mền màu cam; 01 (một) hộp gỗ (không nắp) bên trong có 450.000 đồng (tiền xâu) vị trí cạnh chiếu bạc.
  • + Kiểm tra trên người các đối tượng phát hiện: Lê Hữu D có số tiền 4.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A33; trên người của Nguyễn Thanh T3 có số tiền 3.500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax; trên người của Lê Văn T có số tiền 9.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động Vivo V30e; trên người của Trần Nhơn M1 có số tiền 2.500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A3. Ngoài ra, còn thu giữ 03 xe mô tô các đối tượng sử dụng để đến quán, gồm: xe 75H1-255.75 thu giữ của Lê Văn T; xe 75H1-138.48 thu giữ của Lê Hữu D và xe 75F3-6508 thu giữ của Trần Nhơn M1.

Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu thập được, có căn cứ xác định số tiền thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc và số tiền, tài sản bị cáo Lê Văn T và các đối tượng đem theo đã và sẽ dùng đánh bạc trong vụ án, cụ thể:

  • + Lê Văn T mang theo trong người tổng số tiền 9.700.000 đồng, trong đó 9.000.000 đồng là số tiền vào tối ngày 09/7/2024 bà Lê Thị T2 (Sinh năm 1958; trú tại TDP H, thị trấn P, huyện P - mẹ của T) đưa T giữ để sáng ngày 10/7/2024 chở bà T2 đi khám điều trị tại Bệnh viện Y ở thành phố H. Số tiền 700.000 đồng của T được T dùng vào việc đánh bạc; Chiếc điện thoại Vivo V30e của T sử dụng cá nhân, không dùng vào việc đánh bạc. Đối với xe mô tô 75H1-255.75 là của chị Lê Thị Kim A (chị gái T), T mượn đi chơi trước đó rồi đi đến quán anh Đ xem đá bóng không sử dụng tài sản này vào việc đánh bạc.
  • + Lê Hữu D mang theo trong người số tiền 5.500.000, trong đó 4.000.000 đồng là tiền tối ngày 09/7/2024 bà Phạm Thị M2 (Sinh năm 1976; trú tại TDP H, thị trấn P, huyện P - vợ D) đưa cho D 4.000.000 đồng. D làm nghề lái xe ô tô dịch vụ chở khách, do đó số tiền này chị M2 đưa để sử dụng mục đích khi có sự cố hư hỏng, kiểm tra, bảo dưỡng xe và chi tiền xăng xe, ăn uống... Số tiền 1.500.000 đồng còn lại D mang ra dùng để đánh bạc; Chiếc điện thoại Samsung Galaxy A33 của D sử dụng cá nhân, không dùng vào việc đánh bạc. Đối với xe mô tô 75H1-138.48 là xe của D, D sử dụng đi đến quán xem đá bóng không dùng tài sản này vào việc đánh bạc.
  • + Nguyễn Thanh T3 mang theo trong người số tiền 4.300.000 đồng, trong đó 3.500.000 đồng trước đó ông Nguyễn Thanh D1 (Sinh năm 1932; Trú tại thôn V, xã P, huyện P - bố T3) đưa để chi tiêu trong gia đình và lo cho vợ chồng ông D1 đã lớn tuổi, hay đau ốm. Số tiền 800.000 đồng còn lại T3 mang ra dùng để đánh bạc; Chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu đen của T3 sử dụng cá nhân, không dùng vào việc đánh bạc.
  • + Trần Nhơn M1 mang theo trong người số tiền 3.050.000 đồng, trong đó 2.500.000 đồng là tiền vào ngày 09/7/2024 bà Đặng Thị H (Sinh năm 1970; trú tại F P, phường T, thành phố H - vợ M1) đưa để chuyển cho con trai (Trần Nhơn H2, sinh năm 2003) đang học Đại học H3, thành phố Hồ Chí Minh đóng tiền học phí. Số tiền 550.000 đồng còn lại M1 mang ra dùng để đánh bạc; Chiếc điện thoại Samsung Galaxy A3 của M1 sử dụng cá nhân, không dùng vào việc đánh bạc. Đối với xe mô tô 75F3- 6508 xe của M1 nhưng đứng tên bà Trần Thị G (chị M1), M1 dùng đi đến quán xem đá bóng không dùng tài sản này vào việc đánh bạc.

Như vậy, tang số các đối tượng dùng đánh bạc với nhau trong vụ án là số tiền trên chiếu bạc 3.100.000 đồng và số tiền xâu thu giữ trong hộp gỗ 450.000 đồng. Tổng tang số dùng đánh bạc là 3.550.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) bộ bài tây (tulokho) 52 lá; 01 (một) hộp gỗ; 01 (một) chiếc mền màu cam; Số tiền 19.000.000 đồng (trong đó 4.000.000

của D; 3.500.000 của T3; 9.000.000 đồng của T; 2.500.000 đồng của M1); 03 (ba) xe mô tô: xe 75H1-255.75 thu giữ của T; xe 75-H1-138.48 thu giữ của D và xe 75F3-6508 thu giữ của M1; 04 (bốn) điện thoại di động: 01 hiệu Vivo V30e màu xám của Lê Văn T; 01 hiệu Samsung Galaxy A33 5G màu vàng hồng của D; 01 hiệu Iphone 11 Promax màu đen của T3 và 01 hiệu Samsung Galaxy A3 SM- A300H màu vàng của Trần Nhơn M1.

  • - Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là thành phố H) trả lại cho người quản lý, chủ sở hữu hợp pháp tài sản không liên đến hành vi phạm tội, gồm: Trả cho Lê Hữu D số tiền 4.000.000 đồng, xe mô tô 75H1-138.48 và 01 điện thoại Samsung Galaxy A33 5G màu vàng hồng; trả cho Nguyễn Thanh T3 số tiền 3.500.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 11 Pro max màu đen; trả cho Trần Nhơn M1 số tiền 2.500.000 đồng, xe mô tô 75F3- 6508 và 01 điện thoại Samsung Galaxy A3 SM-A300H màu vàng; trả cho Lê Văn T 01 điện thoại Vivo V30e màu xám và xe mô tô75H1-255.75.
  • - Nhập kho vật chứng Công an tỉnh T (nay là thành phố H): 01 (một) bộ bài tây 52 lá, 01 (một) hộp gỗ, 01 (một) chiếc mền màu cam; Tạm giữ số tiền 3.100.000 đồng là tang số đánh bạc và số tiền 9.000.000 đồng của Lê Văn T đưa vào tài khoản Cơ quan điều tra mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh T (nay là thành phố H), đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKS-P2 ngày 26/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm của cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 06 đến 09 tháng tù.
  • Phạt bổ sung bị cáo T từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.
  • - Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bộ bài tây 52 lá, 01 (một) hộp gỗ, 01 (một) chiếc mền màu cam.
  • Tịch thu sung công tổng số tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc là 3.550.000 đồng.
  • Trả lại cho bà Lê Thị T2 số tiền 9.000.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người cơ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 02 giờ 00 ngày 10 tháng 7 năm 2024, Lê Văn T đã có 01 tiền án về tội đánh bạc (chưa được xóa án tích) đến nhà anh Lê Quang Đ ở tại tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P để xem bóng đá. Tại đây T đã cùng với các đối tượng Nguyễn Thanh T3, Lê Hữu D và Trần Nhơn M1 tham gia đánh bạc, thắng thua bằng tiền, bằng hình thức đánh phỏm. Tổng số tiền dùng đánh bạc 3.550.000 đồng. Với hành vi nêu trên, bị cáo Lê Văn T đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 85/CT-VKS-P2 ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) truy tố bị cáo với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức biết được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội, làm mất trật tự, an ninh tại địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án - Ngày 21/3/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt 20.000.000 đồng và buộc nộp án phí 200.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 22/3/2024 bị cáo nộp toàn bộ tiền phải thi hành án tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) và chưa được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hội cải về hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) bộ bài tây 52 lá, 01 (một) hộp gỗ, 01 (một) chiếc mền màu cam, đây là các công cụ bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Tổng số tiền 3.550.000 đồng đây là số tiền bị cáo và những người khác dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • - Số tiền 9.000.000 đồng là số tiền mà mẹ bị cáo là bà Lê Thị T2 đưa cho bị cáo để làm thủ tục nhập viện cho bà T2, đây là số tiền không liên quan đến hành vi đánh bạc của bị cáo nên cần trả lại cho bà Lê Thị T2.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “ Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) hộp gỗ; 01 (một) chiếc mền màu cam.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 3.550.000 đồng.
  • - Trả lại cho bà Lê Thị T2 số tiền 9.000.000 đồng.

Toàn bộ các vật chứng nêu trên theo Ủy nhiệm chi lập ngày 11/02/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã nộp vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự thành phố Huế. Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 16/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND TP Huế;
  • - Sở tư pháp TP Huế;
  • - Phòng PV06 CA TP Huế;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP Huế;
  • - Cơ quan THAHS CA TP Huế;
  • - Cục THADS TP Huế;
  • - Bị cáo;Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, THS, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Thị Đào Vi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tiến phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger