Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 11 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thanh Hương

2. Bà Hoàng Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hình sự thụ lý số 03/2025/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 24/02/2025 đối với bị cáo:

Chu Quốc H, sinh năm: 1998 tại: Bình Phước.

Tên gọi khác: R; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 08/12.

Nơi thường trú: Tổ E, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Nơi tạm trú và chỗ ở: Tổ D, khu phố I, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Cha: Chu Văn H1, sinh năm: 1971, Mẹ: Lê Thị H2, sinh năm 1976; Bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 26/9/2024 có hành vi cướp giật tài sản của người khác. Ngày 01/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Tổ C, ấp X, xã T, huyện H. (Yêu cầu vắng mặt).

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, do không còn tiền tiêu xài nên Chu Quốc H một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 93C1-370.46 đi từ khu phố I, phường M, thị xã C đến nhà người bạn tên N1 ở xã T, huyện Đ để mượn tiền. Khi đi đến đoạn đường nhựa ĐT756C, thuộc ấp X, xã T, huyện H, H lấy điện thoại ra gọi cho N1 nhưng điện thoại hết tiền, không gọi được. Do không có tiền mua thẻ cào điện thoại, H nảy sinh ý định vào tiệm tạp hóa mua thẻ cào rồi nhanh chóng tẩu thoát. H đi đến tiệm tạp hóa có tên “Đông Năm”, của bà Nguyễn Thị N, dựng xe mô tô trước tiệm tạp hóa. Thời điểm này, có ông Nguyễn Văn Đ (Chồng bà N) và ông Nguyễn Văn T đang ngồi uống nước trước cửa quán. H đi bộ vào quán gặp bà N nói: “Cô ơi lấy cho cháu hai C điện thoại Viettel mỗi cái 100.000₫”, bà N lấy hai thẻ cào điện thoại đưa cho H cầm, H nói: “Cô ơi con ra lấy cái bóp”, bà N nghĩ H ra lấy tiền trả nên không nói gì, H nhanh chóng đi ra xe mô tô bật chìa khóa khởi động máy, điều khiển xe bỏ chạy hướng về thị trấn T, huyện H. Thấy H bỏ chạy, bà N la lên: “ô thằng kia chưa trả tiền thẻ”. Nghe bà N nói vậy, ông T điều khiển xe mô tô đuổi theo H khoảng 2km trên đường ĐT756C thì bắt được H và trình báo lực lượng Công an.

Tại Cơ quan Công an, Chu Quốc H đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật;

  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát: 93C1-370.46, nhãn hiệu: Wave @, màu: Đỏ-Đen.
  • - 02 thẻ cào điện thoại V mỗi một cái có mệnh giá 100.000đ, số seri: 10010727345511 và số seri: 10010727345519.
  • - 01 nón (mũ) bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi nam ngắn tay màu đen, có dòng chữ “A GON-MEN FASHION 2020”; 01 quần sơ mi nam ngắn màu đen không nhãn hiệu.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 07/01/2025 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Chu Quốc H (Ruồi) về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Chu Quốc H phạm tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng

3

khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Chu Quốc H (Ruồi) mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị xử lý vật chứng:

  • - 01 xe mô tô biển số: 93C1-370.46, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị H2. Ngày 26/9/2024, bà H2 cho Chu Quốc H sử dụng xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, bà H2 không biết H sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Lê Thị H2 theo đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
  • - 02 thẻ cào điện thoại V, mỗi một cái có mệnh giá 100.000 đồng, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị N theo đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
  • - 01 nón (mũ) bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi nam ngắn tay màu đen, có dòng chữ “A GON-MEN FASHION 2020”; 01 quần sơ mi nam ngắn màu đen không nhãn hiệu, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho Chu Quốc H theo quy định.

Bị cáo không tranh luận.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại có đơn xin vắng mặt. Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại đã có lời khai; lời khai của bị hại phù hợp với lời khai bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong

4

hồ sơ vụ án; bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị hại; khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố các bản khai tại phiên tòa.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Chu Quốc H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù với Biên bản khám nghiệm hiện trường và vật chứng thu giữ được trong vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận như sau: Do cần nạp tiền vào sim điện thoại nên vào ngày 26/9/2024, tại ấp X, xã T, huyện H C đã dùng thủ đoạn cướp giật hai thẻ cào điện thoại V, trị giá 200.000 đồng của bà Nguyễn Thị N và bỏ chạy. Hành vi của Chu Quốc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến trật tự địa phương, gây phản ứng bất bình trong nhân dân nơi có vụ án xảy ra. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt không có tiên án tiền sự, phạm tội lần đầu nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với người phạm tội.

[5] Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được cơ quan chức năng thu hồi trả lại cho bị hại; bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên không tiếp tục xem xét.

[6] Xử lý vật chứng: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng như trên là đúng quy định nên chấp nhận.

[7] Án phí: Bị cáo Chu Quốc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

5

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Quốc H (R) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Chu Quốc H (R) hình phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ 26/9/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trả lại cho bị cáo Chu Quốc H 01 nón (mũ) bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi nam ngắn tay màu đen, có dòng chữ “A GON-MEN FASHION 2020”; 01 quần sơ mi nam ngắn màu đen không nhãn hiệu, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án.

    (Vật chứng được mô tả và đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0006037 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự và Thi hành án hình sự huyện Hớn Quản).

    Các vật chứng khác quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.

  4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Chu Quốc H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

6

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Phân trại tạm giam Hớn Quản
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước;
  • - Bộ phận HSNV CA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người bị hại;
  • - Lưu HS, VT (14)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: a
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger