Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 06-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Tiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Chẩn về ông Ngô Thanh Long

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/05/2000 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; số CCCD: [...], cấp ngày 27/10/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1969; họ và tên mẹ: Lê Thị H (Chết); vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/10/2023, bị Chủ tịch UBND xã X xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản (Chưa chấp hành); nhân thân: Bị Tòa án Quân sự khu vực 2 – Quân khu V1 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Bản án số 07/2017/HSST ngày 30/11/2017 (Bị cáo chấp hành xong ngày 30/11/2020). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/08/2024. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Bùi Văn V, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có yêu cầu xin vắng mặt).

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Văn M, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn N, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có yêu cầu xin vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  3. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có yêu cầu xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 15/8/2024, Nguyễn Thanh T điều khiển thúng chai đánh bắt hải sản tại khu vực biển V thuộc thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên thì phát hiện chiếc xuồng của ông Bùi Văn V đang neo tại đây. Lúc này T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên T buộc thúng chai vào xuồng rồi nổ máy điều khiển chiếc xuồng chạy đến bên X. Đến khoảng 07 giờ ngày 17/8/2024, T điều khiển chiếc xuồng này đến cầu T thuộc thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên và buộc cố định chiếc xuồng dưới chân cầu. Sau đó, T kiểm tra thấy có một số tài sản trên xuồng nên T lấy một cánh quạt bằng đồng bỏ vào bao và điều khiển thúng chai đi vào bờ rồi đón xe về nhà ở khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1 – 340.09 (xe của Nguyễn Thanh P) chở cánh quạt đến tiệm phế liệu của ông Võ Văn M ở thôn N, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên bán lấy số tiền 240.000₫ tiêu xài cá nhân.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐG ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Chiếc xuồng trị giá 70.000.000₫.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Các vật dụng trên xuồng gồm 03 cuộn dây hơi, 01 cuộn dây xịt, 01 bếp ga, 01 bình ga, 02 cặp chân vịt, 01 neo inox, 01 máy D30 (bao gồm máy, hộp số, dàn sắt xi lắp máy, dàn láp chân vịt không đề), 01 đầu máy hơi, 01 đầu máy xịt, 01 cánh quạt trị giá 37.626.666₫.

Tổng số tài sản T chiếm đoạt trị giá 107.626.666 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) vỏ xuồng máy, loại xuồng Composite, có kích thước: chiều dài 7.3m, chiều rộng 1.8m; được sơn phần phía trên màu xanh nước biển, phần phía dưới màu xám, đỏ; trên thân phía trước mỗi bên xuồng có hình lá cờ Tổ quốc và số “78” được sơn màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn (phanh) dây hơi, màu xanh nước biển, có

3

  • kích thước đường kính 0.011m, kích thước chiều dài 200m, đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn (phanh) dây hơi, màu xanh nước biển, có kích thước đường kính 0.011m, kích thước chiều dài 200m, đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn (phanh) dây hơi, màu xanh nước biển, có kích thước đường kính 0.011m, kích thước chiều dài 195.2m, mua mới tại cửa hàng ngư lưới cụ “P” vào tháng 6/2023 với giá 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng); 01 (một) cuộn (phanh) dây xịt, màu vàng, có kích thước đường kính 0.02m, chiều dài: 15.52m; trên dây có in các ký hiệu “Crocodile Spray Hose 13mm 2000PSI – Made in Korean", đã qua sử dụng; 01 (một) bình ga, loại bình gas 12kg, không rõ nhãn hiệu, chủng loại; 02 (hai) cặp “chân vịt” lặn, một cặp màu trắng, đen; một cặp màu xanh, đen; đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) neo inox, trọng lượng 10kg, đã qua sử dụng; 01 (một) máy D30 (bao gồm máy, hộp số, dàn sắt xi lắp máy, dàn lắp chân vịt, không đề), đã qua sử dụng; 01 (một) máy hơi, loại máy 2 nạng – tức 2 nhánh (2x80), đã qua sử dụng; 01 (một) máy xịt, loại máy 5 ngựa (HP), đã qua sử dụng; 01 (một) cánh quạt (chân vịt) 03 cánh, bị cong, chất liệu đồng; trọng lượng 2.15kg, đã qua sử dụng (Các vật chứng này Cơ quan CSĐT đã trao trả cho bị hại ông Bùi Văn V).
  • - 01 (một) cái thúng chai, loại thúng Composite, màu xanh, có ghi chữ “Đại Lục” màu trắng ở mặt ngoài, có cột một dầm gỗ, đã qua sử dụng; 01 (một) cái bình ắc quy loại 100ampe, nhãn hiệu GS Hybrid, đã qua sử dụng; 01 (một) đầu ray dùng để lặn, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ đồ nhái lặn, màu xám, xanh; không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 (một) cái chĩa dùng để đâm cá, đã qua sử dụng; 01 (một) phanh chì (để quấn quanh người khi lặn), không rõ trọng lượng, đã qua sử dụng; 01 (một) thùng nhựa đỏ (dùng để đựng hải sản đánh bắt được); đã qua sử dụng; 01 (một) hộp nhựa đựng tôm (loại tôm giả) dùng để câu mực (Các vật chứng này Cơ quan CSĐT đã trao trả cho người liên quan ông Nguyễn Thanh T1).
  • - 01 nón lưỡi trai màu xanh lá cây, phía trước có chữ “LA”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài thun, màu đen, hai bên có sọc trắng.
  • - 01 (một) đoạn camera trích xuất từ hệ thống camera an ninh Công an xã X, có thời lượng 00 phút 57 giây, từ 07 giờ 45 phút 45 giây đến 07 giờ 46 phút 42 giây ngày 16/8/2024, được lưu dưới tên “5738723435633.mp4"; 01 (một) đoạn camera được trích xuất từ hệ thống camera an ninh của Công an xã X, có thời lượng 00 phút 53 giây, từ 08 giờ 29 phút 49 giây đến 08 giờ 30 phút 41 giây ngày 16/8/2024, được lưu dưới tên “5738723482259.mp4"; 02 đoạn camera trên được lưu trữ trong đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x, nhãn hiệu maxell, màu vàng, niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035670 (Đã được niêm phong, kèm theo hồ sơ vụ án).
  • - 01 (một) đoạn camera được trích xuất từ hệ thống camera an ninh của nhà bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979, trú thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, có thời lượng 02 phút 16 giây, ngày 16/8/2024, được lưu dưới tên “5739309329033.mp4"; được lưu trữ trong đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x, nhãn hiệu maxell, màu vàng, niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035671 (Đã được niêm phong, kèm theo hồ sơ vụ án).

4

Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không phát sinh yêu cầu Thìn bồi thường. Ông M không yêu cầu nhận lại số tiền 240.000đ.

Cáo trạng số 04/CT-VKSSC ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Người liên quan ông Nguyễn Thanh T1 xác định ông chỉ cho bị cáo T mượn thúng chai để đánh bắt hải sản. Ông không biết T sử dụng thúng chai làm phương tiện phạm tội. Ông đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 04/CT-VKSSC ngày 17/01/2025, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 03 năm – 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/08/2024.

  • - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp.
  • - Đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền 240.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp (cánh quạt) cho ông M và sung vào ngân sách nhà nước
  • - Về vật chứng vụ án: Các vật chứng thu giữ được, việc cơ quan CSĐT trao trả cho bị hại, người liên quan đúng quy định nên đề nghị không xem xét. Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng gồm 01 nón lưỡi trai, màu xanh lá cây, phía trước có chữ “LA”, đã qua sử dụng; 01 quần dài thun, màu đen, hai bên có sọc trắng. Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035670; đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035671.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông V và người liên quan ông M không phát sinh yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Trong phần tranh luận: Bị cáo đồng ý với nội dung bản luận tội, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

  1. [1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã S và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M, ông P vắng mặt. Xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt ông V, ông M, ông P.
  3. [3] Về tội danh và khung hình phạt; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; mức hình phạt cho bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh T tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 15/08/2024 tại khu vực biển V thuộc thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Thanh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Bùi Văn V với tổng giá trị là 107.626.666 đồng gồm chiếc xuồng trị giá 70.000.000 đồng và một số tài sản khác trị giá 37.626.666 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, truy tố tại Cáo trạng số 04/CT-VKSSC ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
  4. [4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân rất xấu: Ngày 30/11/2017, bị Tòa án Quân sự khu vực 2 – Quân khu V1 tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 30/11/2020 nhưng bị cáo không rút ra được bài học, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục vi phạm pháp luật, dẫn đến có 01 tiền sự ngày 09/10/2023, bị Chủ tịch UBND xã X xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay chưa chấp hành. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo T, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục. Xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cha Nguyễn Thanh T1 02 lần được giấy khen trong quá trình tham gia Tổ Bảo vệ dân phố phường Xuân T2 nên được xem xét áp dụng tình tiết

6

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình áp dụng đối với bị cáo.

  1. Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, không có công việc tạo thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • [6.1] Việc cơ quan CSĐT trao trả cho bị hại, người liên quan các vật chứng thu giữ được đúng quy định nên không xem xét.
    • [6.2] Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội gồm: 01 (một) nón lưỡi trai, màu xanh lá cây, phía trước có chữ “LA”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài thun, màu đen, hai bên có sọc trắng.
    • [6.3] Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x, nhãn hiệu maxell, màu vàng, niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035670 và đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x, nhãn hiệu maxell, màu vàng, niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035671.
  3. Áp dụng biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền 240.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp (cánh quạt) cho ông M và sung vào ngân sách nhà nước.
  4. Trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan không ai phát sinh yêu cầu bị cáo T bồi thường nên không xem xét.
  5. Đối với ông Võ Văn M đã thu mua cánh quạt nhưng không biết tài sản này do T trộm cắp mà có, không có dấu hiệu tội phạm nên không xem xét.
  6. Đối với Nguyễn Thanh P và Nguyễn Thanh T1: Không biết T dùng xe mô tô và thúng chai để thực hiện hành vi phạm tội, không có dấu hiệu tội phạm nên không xem xét.
  7. Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/08/2024. Hình phạt bổ sung: Không.
  4. Về xử lý vật chứng:

7

Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng gồm: 01 (một) nón lưỡi trai, màu xanh lá cây, phía trước có chữ “LA”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài thun, màu đen, hai bên có sọc trắng được ghi nhận tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x, nhãn hiệu maxell, màu vàng, niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035670 và đĩa trắng CD-R80MQ Speed compatible 52x, nhãn hiệu maxell, màu vàng, niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 23035671.

  1. Áp dụng biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp (cánh quạt) cho ông M và sung vào ngân sách nhà nước.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp Phú Yên;
  • - VKSND TX. Sông Cầu;
  • - VKSND tỉnh PY;
  • - CSĐT Công an TX. Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS TX. Sông Cầu;
  • - CQ THA HS TX. Sông Cầu;
  • - Bị cáo, bị hại, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Thị Ngọc Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/08/2024. Hình phạt bổ sung: Không
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger