|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 05-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Song Hà;
- Bà Ngô Thị Hồng Gấm;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thứ ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn Đ (Tên gọi khác: Cá L), sinh ngày 19/03/1992; Nơi thường trú và nơi ở: Tổ E, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Trần Văn O, sinh năm 1967 (chết) và bà Trần Thị Cẩm M, sinh năm 1967; Gia đình có 02 anh em, bị cáo lớn nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/06/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 24/01/2014 chấp hành xong hình phạt tù đã được xóa án tích; Tạm giữ ngày 26/01/2024; Tạm giam ngày 28/01/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Phan Tuấn K (Tên gọi khác: Đầu T), sinh ngày 21/8/2002; Nơi thường trú và nơi ở: Tổ B, ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Phan Văn H và bà: Lê Thị H1; Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 26/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/01/2024 Quyết định thi hành án phạt tù đến nay chưa chấp hành phạt; Tạm giữ ngày 19/01/2024; Tạm giam ngày 28/01/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Văn T1 (Tên gọi khác: Thành Đ1), sinh ngày 02/01/1992; Nơi thường trú và nơi ở: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1963 và bà Lê Thị S, sinh năm 1962; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/07/2018, bị Công an huyện L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong; Bắt tạm giam ngày 16/9/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Phan Văn H, sinh ngày 01/01/1975; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Số F, tổ B, ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Phan Văn Q, sinh năm 1933 (chết) và bà Lê Thị A, sinh năm 1939; Vợ: Lê Thị H1 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Lệnh cấm cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/9/2024; Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ theo luật định: Luật sư Nguyễn Thị M1 – Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị M1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Tuấn K theo luật định: Luật sư Phan Văn M2 – Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
- Bị hại: Đặng Phú T3, sinh năm 1970 (có mặt);
Nơi cư trú: Số D, đường N, tổ C, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bùi Thị Thu S1 (L1), sinh năm 1990 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;
Nơi ở hiện tại: P, nhà T, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
-
Đặng Phú Đ2, sinh năm 2004 (có mặt);
Nơi cư trú: Số D, đường N, tổ C, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
-
Nguyễn Thanh N (K1), sinh năm 1995 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Tổ B, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Đ, Phan Tuấn K và Nguyễn Văn T1 là bạn, còn Phan Văn H cha ruột của K. Khoảng 17 giờ ngày 14/01/2024, Đ điện thoại rủ K nói “tối nay đi làm không”. Kiệt hiểu, Đ rủ đi ăn trộm gà đá để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đồng ý.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, K từ nhà ngụ số F, tổ B, ấp D, xã B, huyện C, tự ý lấy xe mô tô hiệu Sirius mang Biển số 66F2-093.27 của Phan Văn H cha ruột mình, điều khiển chạy đến nhà trọ “C" thuộc phường F, thành phố C nơi Bùi Thị Thu S1 bạn gái của Đ thuê ở để gặp Đ. Đ điều khiển xe chở K ngồi sau đi tìm gà đá để trộm cắp. Trên đường đi đến địa điểm nhà anh Đặng Phú T3 ngụ số D, đường N, khóm T, phường H, thành phố C. Đ nói K “nhà này có nuôi gà trống đá” nên Đ và K quan sát thấy phía trước cửa nhà anh T3 cửa kéo bằng sắt có bóp ổ khóa cửa bên ngoài không người trông coi. Đ chở K chạy xe về nhà mình ngụ tổ E, khóm A, phường F, thành phố C, lấy 01 cây kềm cộng lực rồi cất giấu trong người điều khiển xe chở K đến nhà anh T3.
Lúc này khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ dừng xe đậu tại ngã 3 đường N và đường N, phường H, thành phố C, cách nhà anh T3 khoảng 8 mét để K quan sát canh đường cảnh giới còn Đ đi bộ qua nhà anh T3. Thấy không có người, Đ dùng kềm cộng lực cắt ổ khóa cửa rồi lén lúc mở cửa ra đi vào bên trong đến khu vực phía sau nhà bếp bắt trộm 02 con gà trống đá (01 con trọng lượng khoảng 2,8kg và 01 con trọng lượng khoảng 3,1kg) của anh T3 rồi bỏ vào bao nilong màu trắng đi ra kêu K điều khiển xe chở Đ ngồi sau ôm 02 con gà để đem đi cất giấu sáng bán lấy tiền xài cá nhân. Trên đường đi, Đ nói với K “trong phòng nhà đó có két sắt, mày chơi lớn không”. K nghe đồng ý nên chở Đ về phòng số 01 nhà trọ “Cây Điệp” để Đ đến gặp Nguyễn Thanh N là bạn của Đ nhờ cất giữ dùm 02 con gà. Nguyên đồng ý giữ dùm 02 con gà nhưng không biết Đ và K vừa trộm cắp 02 con gà mà có. Sau đó, Đ điều khiển xe chở K quay lại nhà anh T3, dừng xe trước cửa, Đ cảnh giới để K một mình lén lúc vào trong nhà đến phòng ngủ anh T3 trộm két sắt để sát góc tường, một mình K khom người xuống dùng 02 tay lôi kéo két sắt từ trong phòng ngủ ra trước cửa nhà anh T3 rồi cùng Đ khiêng két sắt ra để lên xe. K ngồi sau dùng tay ôm két sắt để Đ chở K đến nhà bạn Nguyễn Văn T1 ngụ số E, ấp T, xã T, huyện L.
Lúc này khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, Đ đến nhà kêu T1 thức dậy để cho Đ và K đem két sắt ra phía sau bãi đất trống cách nhà T1 khoảng 15m. Đ hỏi T1 có gì để cạy két sắt không. Lúc này T1 mới biết Đ và K trộm két sắt mà có nhưng không nói gì mà đi vào nhà lấy 01 con dao yếm, 01 cây búa, 01 cây kéo, 01 cây tua vít, 01 thanh sắt đưa cho Đ rồi T1 cùng Đ cầm các dụng cụ trên cạy két sắt. Còn K dùng đèn pin điện thoại bật đèn chiếu sáng rọi vào két sắt để cho Đ và T1 cùng nhau cạy cửa két sắt bung ra được, Đ và K phát hiện bên trong két sắt có được tài sản của anh T3 gồm: 60.000.000 đồng tiền Việt Nam; 01 tờ tiền 100USD; 01 tờ tiền 1000 Rubiah Indonesia và 02 Giấy CNQSDĐ và nhiều loại nữ trang bằng vàng gồm: 01 (một) dây chuyền kiểu chữ N, trọng lượng 10 chỉ, loại vàng 9999; 01 (một) dây chuyền kiểu khoen lật, trọng lượng 10 chỉ, loại vàng 9999; 01 (một) mặt dây chuyền hình mũi neo trọng lượng 03 chỉ, loại vàng 9999; 01 (một) lắc đeo tay, trọng lượng 10 chỉ, loại vàng 9999; 10 (mười) chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 10 chỉ/01 chiếc, loại vàng 9999; 12 (mười hai) chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 05 chỉ/01 chiếc, loại vàng 9999; 03 (ba) chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 02 chỉ/01 chiếc, loại vàng 9999; 02 (hai) chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 05 phân/01 chiếc, loại vàng 9999; 01 (một) vòng đeo tay, trọng lượng 03 chỉ, loại vàng 18kara. Tấc cả các nữ trang đều có đóng dấu tiệm V.
Sau khi lấy tài sản trộm được của anh T3, Đ lấy 20.000.000 đồng cho T1, còn số tiền, vàng còn lại Đ cất giữ bỏ vào trong túi quần, còn K lấy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T3 dùng hột quẹt ga đem đốt bỏ, còn Đ và T1 khiêng két sắt ra giữa cầu T cách nhà T1 khoảng 40 mét ném bỏ xuống sông. Rồi sau đó, Đ chở K về thành phố C. Khi đến cống Vàm Long S2 giáp ranh thuộc xã T và phường F, thành phố C. Đ dừng xe lại lấy tiền, vàng ra chia đều cho K (nhưng không nhớ rõ số lượng, trọng lượng từng loại vàng được chia đều mỗi người là bao nhiêu). Sau đó, Đ tiếp tục lấy gà chia cho K 01 con gà trống đá nặng khoảng 2,8kg, còn Đ lấy 01 con gà trống đá nặng 3,1kg rồi đem tài sản về nhà cất giấu và bỏ trốn.
Anh T3 khi phát hiện bị trộm cắp tài sản đến Công an thành phố C trình báo vụ việc. Qua điều tra, xác minh đến khoảng 14 giờ 05 phút ngày 19/01/2024 Phan Tuấn K đến Công an đầu thú thừa nhận mình có hành vi lén lúc cùng Trần Văn Đ trộm cắp tài sản tại nhà anh Đặng Phú T3.
Ngoài ra K còn khai nhận, sau khi cùng Đ chia tài sản trộm cắp. Khoảng 4 giờ ngày 15/01/2024, K từ nhà thuê xe Taxi (không nhớ biển số xe) đến thành phố T vào 01 tiệm vàng (không nhớ tên, địa chỉ) bán hết số vàng trộm được tổng số tiền 622.450.000 đồng nhưng không biết rõ số lượng, trọng lượng vàng là bao nhiêu và bán 100USD được 2.400.000 đồng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, K đem số tiền 622.450.000 đồng về đưa cho Phan Văn H cha ruột mình cất giữ. Hôn thấy K có số tiền lớn nên hỏi “tiền ở đâu mày có”. K trả lời “tiền ăn trộm của người ta”. H nói với K “ở tù đem trả lại cho người ta”. K không đồng ý nói “Cha đem cất giấu số tiền đi rồi từ từ tính”. H đồng ý lấy 01 con dao đào lỗ, đem số tiền 622.450.000 đồng cất giấu tại vườn xoài nhà ông Phan Văn H2 thuộc ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Đối với Trần Văn Đ, ngày 28/01/2024 đang trốn tại tỉnh Vĩnh Long thì bị Công an bắt giữ thừa nhận, sau khi cùng K chia tiền, vàng trộm cắp tại nhà anh T3. Sáng ngày 15/01/2024, Đ đem con gà đến thành phố S bán cho người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) được 1.000.000 đồng rồi đi xe khách qua cửa khẩu D thuộc huyện T sang trường gà Campuchia lấy số vàng trộm được bán cho 01 phụ nữ (không rõ họ tên) với số tiền 440.000.000 đồng. Có tiền, Đ tham gia chơi đá gà thua 220.000.000 đồng. Số tiền còn lại 220.000.000 đồng Đông lên tỉnh Đắc Lắc và Vĩnh Long trốn tiếp và tiêu xài cá nhân cho đến ngày bị bắt chỉ còn lại 159.000 đồng. Cơ quan điều tra đã khởi tố Trần Văn Đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” cùng với Phan Tuấn K.
Trước Cơ quan điều tra, H khai nhận khi đưa K đến Công an thành phố C đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản. Nhưng H không đem giao nộp số tiền 622.450.000 đồng cất giấu. Đến ngày 31/01/2024, K mới khai nhận số tiền 622.450.000 đồng đưa cho H cất giấu. Cơ quan điều tra mời làm việc ghi lời khai, H mới thừa nhận mình có cất giấu 622.450.000 đồng K trộm cắp mà có và H giao nộp 622.450.000 đồng. Cơ quan điều tra đã khởi tố Phan Văn H về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Nguyễn Văn T1, sau khi K và Đ bị Cơ quan điều tra khởi tố, tạm giam để điều tra về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Cơ quan điều tra đã mời làm việc ghi lời khai T1 thừa nhận. Việc Đ và K trộm cắp tài sản tại nhà anh T3. T1 không biết và cũng không có tham gia cùng Đ và K đi trộm cắp tài sản. Nhưng khi Đ và K trộm chở két sắt đến nhà T1 vào ban đêm, T1 mới biết Đ và K trộm cắp tài sản của người khác mà có nhưng T1 vẫn đồng ý để cho Đ và K chở két sắt ra phía nhà T1, rồi cùng Đ và K tham gia cạy két sắt để cho Đ và K chiếm đoạt tiền, vàng của anh T3, có tiền Đ cho T1 20.000.000 đồng. Ngày 10/9/2024 Cơ quan điều tra khởi tố bị can, Lệnh bắt tạm giam đối với T1 về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà”, đồng thời T1 đã giao nộp 20.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 398/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C, kết luận: 01 két sắt màu xám đen nhãn hiệu Việt Tiệp, kích thước 45cm x 35cm x 75cm, trị giá 1.050.000 đồng; 01 con gà trống đặc điểm lông đỏ đen, trọng lượng 2.8kg, trị giá 308.000 đồng; 01 (một) con gà trống đặc điểm lông đỏ đen, trọng lượng 3,1kg, trị giá 341.000 đồng. Tổng số tiền 1.699.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS, ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Đồng Tháp. Kết luận:
- 01 tờ 100 USD (một trăm đô la Mỹ), trị giá 2.391.900 đồng; 01 tờ 1000 Rupiah Indonesia, trị giá 2.000 đồng.
- 01 dây chuyền kiểu chữ N, trọng lượng 10 chỉ, loại vàng 9999, trị giá 62.467.000 đồng; 01 dây chuyền kiểu khoen lật, trọng lượng 10 chỉ, loại vàng 9999, trị giá 62.467.000 đồng; 01 mặt dây chuyền hình mũi neo trọng lượng 03 chỉ, loại vàng 9999, trị giá 18.750.000 đồng; 01 lắc đeo tay, trọng lượng 10 chỉ, loại vàng 9999, trị giá 62.467.000 đồng; 10 chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 10 chỉ/01 chiếc, loại vàng 9999, trị giá 627.000.000 đồng; 12 chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 05 chỉ/01 chiếc, loại vàng 9999, trị giá 376.200.000 đồng; 03 chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 02 chỉ/01 chiếc, loại vàng 9999, trị giá 37.620.000 đồng; 02 chiếc nhẫn trơn, trọng lượng 05 phân/01 chiếc, loại vàng 9999, trị giá 6.270.000 đồng; 01 vòng đeo tay, trọng lượng 03 chỉ, vàng 18Kara, trị giá 13.500.000 đồng. Như vậy, tổng tài sản Đ và K trộm được trị giá 1.330.833.900 đồng (tiền 60.000.000 đồng + vàng 1.270.833.900 đồng).
* Biên bản hiện trường hồi 03 giờ 30 phút ngày 15/01/2024 xác định hiện trường tại nhà Đặng Phú T3 ngụ số D, đường N, khóm T, phường H, thành phố C thể hiện. Hiện trường căn nhà cấp 4 được xây dựng bằng bê tông cốt thép, mái lợp tol, nền lót gạch men có diện tích 12m x 4,5m gồm; 01 phòng khách, 01 phòng ngủ và 01 ngăn bếp. Cửa ra vào phía trước loại cửa 02 cánh làm bằng kim loại trên cửa phát hiện thu lượm 01 ổ khóa khoen trên bị cắt, cách nền nhà 1,75m phát hiện 01 ổ khóa khoen cửa bị cạy rời. Bên trong phòng khách gốc hướng Đ là nơi để tài sản bị mất trộm (ký hiệu số 1), bên trong phòng ngủ hướng Đông là nơi để tài sản bị mất trộm (ký hiệu số 4).
Về vật chứng Cơ quan điều tra tạm giữ gồm: Bị can Phan Tuấn K giao nộp: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu bạc, số Seri: R58W811NSTF; 01 quần dài, loại vải Jean, màu xám; 01 áo sơ mi tay dài, bằng vải có họa tiết màu đen trắng; 3.950.000 đồng và 01 tờ tiền 1000 Rupiah Indonesia hiện đã trao trả cho anh T3.
Trần Văn Đ giao nộp: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh đen, có sim số 0816290669; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh đen, có gắn sim số 0763860814, màn hình bị vỡ; 159.000 đồng hiện đã trao trả cho anh T3.
Phan Văn H giao nộp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung RLCUE3740PY196543, số máy E32VE783507, mang Biển số 66F2-093.27; 622.450.000 đồng hiện đã trao trả cho anh T3.
Nguyễn Văn T1 giao nộp: 01 cây dao yếm, 01 cây búa, 01 cây kéo, 01 cây tua vít, 01 thanh sắt; 20.000.000 đồng hiện đã trao trả cho anh T3.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại Đặng Phú T3 gồm; 646.559.000 đồng và 01 tờ tiền 1000 Rupiah Indonesia, còn lại 684.274.900 đồng, anh T3 tiếp tục yêu cầu Trần Văn Đ, Phan Tuấn K bồi thường tiếp. Còn 02 Giấy CNQSDĐ, anh T3 đã đi làm lại được cấp Giấy CNQSDĐ mới nên không yêu cầu Đ, K bồi thường.
Theo Cáo trạng số 16/CT-VKS-P2 ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Trần Văn Đ và Phan Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Văn T1 về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự; truy tố Phan Văn H về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Phan Tuấn K cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo Phan Văn H phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 14 năm đến 16 năm tù;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Phan Tuấn K từ 12 năm đến 13 năm tù và tổng hợp hình phạt với bản án số 64/2023/HSST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo NguyễnVăn Thành từ 10 năm đến 11 năm tù;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 323; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 03 năm đến 04 năm tù;
Do gia đình của các bị cáo hiện đang gặp khó khăn về kinh tế nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, đề nghị xem xét theo phần Quyết định của Cáo trạng đã nêu.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ phát biểu quan điểm: Thống nhất với vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, vị luật sư còn viện dẫn về nguyên nhân, điều kiện, ý thức, mục đích phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha chết, mẹ thường xuyên đau ốm để xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Tuấn K phát biểu quan điểm: Thống nhất với vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, vị luật sư cũng nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đi đầu thú và đã tác động gia đình khắc phục được thiệt hại cho bị hại; giữa bị cáo và bị cáo H trong vụ án có mối quan hệ cha con; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông nội của bị cáo là liệt sĩ. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận hay bào chữa bổ sung mà chỉ thừa nhận hành vi của các bị cáo là sai, các bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo Phan Tuấn K có yêu cầu tách phần dân sự của bị cáo ra không liên đới với bị cáo Trần Văn Đ do bị cáo đã có bồi thường.
Bị hại không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày không có gì để nói.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng họ vẫn vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người này.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều khẳng định hành vi được mô tả trong bản cáo trạng số 16/CT-VKS-P2 ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Lợi dụng đêm khuya, trong lúc chủ sở hữu không có ở nhà, Đ và K lén lút thực hiện hành vi lấy trộm gà và két sắt bên trong có tài sản tiền, vàng của anh T3. Tổng giá trị tài sản theo định giá 1.330.833.900 đồng để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau khi Đ và K trộm két sắt đem đến nhà Nguyễn Văn T1, T1 cùng Đ và K đem ra ra phía sau nhà mình rồi T1 cùng Đ, K đục khóa két sắt ra để cho Đ, K chiếm đoạt tài sản và được Đ cho 20.000.000 đồng từ tiền trộm cắp mà có.
Sau đó, Đ chia đều tiền, vàng và gà trộm được cho K. Kiệt bán hết số vàng trộm được tổng số tiền 622.450.000 đồng và bán 100USD được 2.400.000 đồng rồi đem tất cả khoản tiền nêu trên về đưa cho Phan Văn H là cha ruột của K cất giữ. Khi nhận được số tiền 622.450.000 đồng K đưa, biết rõ tiền do trộm cắp mà có nhưng H không khuyên ngăn mà đồng ý đem giấu số tiền này cho đến khi Cơ quan điều tra mời làm việc H mới thừa nhận đem giao nộp số tiền này.
Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo là có tội; trong đó, các bị cáo Trần Văn Đ và Phan Tuấn K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm vào tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự và bị cáo Phan Văn H đã phạm vào tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b).... ".
4.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b).... ” .
Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản mà biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm.
a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên.”.
[3] Các bị cáo Trần Văn Đ và Phan Tuấn K có nhân thân xấu. Bị cáo Đ đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Còn bị cáo K đã có tiền án 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành hình phạt tù. Đáng lý ra các bị cáo phải biết ăn năn, tự rèn luyện sửa chữa bản thân để trở thành người công dân tốt nhưng các bị cáo không làm được điều này, ngược lại vẫn chứng nào tật ấy, không biết lo chí thú làm ăn lương thiện, lười biếng lao động, xem thường và bất chấp pháp luật nên các bị cáo Đ và K đã cùng nhau tiếp tục có hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Còn bị cáo Nguyễn Văn T1 biết rõ két sắt mà Đ và K mang đến là tài sản trộm cắp mà có nhưng bị cáo không khuyên ngăn mà lại đem ra ra phía sau nhà mình rồi cùng Đ, K đục khóa két sắt ra để cho Đ, K chiếm đoạt tài sản của bị hại.
Cũng như bị cáo T1, bị cáo Phan Văn H khi nhận được số tiền 622.450.000 đồng K đưa, biết rõ là tiền do trộm cắp mà có nhưng H cũng không khuyên ngăn mà đồng ý đem giấu cho đến khi Cơ quan điều tra mời làm việc H mới thừa nhận đem giao nộp số tiền này.
Các bị cáo thừa biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác cũng như hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
Trong vụ án này, tuy các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, cũng không có sự bàn bạc, sắp đặt vai trò cụ thể cho nhau và cũng không có sự điều khiển của người nào nên đây chỉ là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
Bị cáo Đ là người trực tiếp chủ động khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản rồi chia cho đồng bọn tiêu xài cá nhân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính. Còn bị cáo K là người giúp sức, bị cáo trực tiếp lấy trộm két sắt của bị hại và được chia đều tài sản trộm được nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực trong vụ án.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp về tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh, chứng tỏ các bị cáo rất xem thường và bất chấp pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Đ, T1 và H không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo K đi đầu thú và tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hai; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông nội của bị cáo là liệt sĩ. Còn bị cáo Nguyễn Văn T1, sau khi phạm tội đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Riêng Phan Văn H, về nhân thân, bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội trong trường hợp bị phụ thuộc mối quan hệ cha con ruột với bị cáo K; cha ruột của bị cáo là liệt sĩ và hiện tại bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình để nuôi mẹ già; sau khi phạm tội bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền mà bị cáo chứa chấp do con của bị cáo phạm tội mà có để khắc phục hậu quả cho bị hai. Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do gia đình của các bị cáo hiện đang gặp khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo cũng như đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Xét lời bào chữa cho các bị cáo Đ, K của các vị luật sư về các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bị mất trộm tài sản có tổng trị giá 1.330.833.900 đồng, Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại Đặng Phú T3 gồm: 646.559.000 đồng và 01 tờ tiền 1000 Rupiah Indonesia, còn lại số tiền 684.274.900 đồng, anh T3 tiếp tục yêu cầu Trần Văn Đ, Phan Tuấn K liên đới bồi thường tiếp cho anh. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ nên chấp nhận. Các bị cáo Đ và K đồng ý bồi thường số tiền này theo yêu cầu bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện này của các bị cáo. Theo đó, các bị cáo Đ và K có trách nhiệm liên đới bồi thường tiếp cho anh T3 số tiền 684.274.900 đồng, nhưng trừ đi 10.000.000 đồng mà gia đình của bị cáo K đã nộp khắc phục theo biên lai thu số 0005400 ngày 07/5/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, các bị cáo Đ và K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh T3 số tiền 674.274.900 đồng.
[8] Về vật chứng: Đối với 01 (một) quần bằng vải, loại vải Jean, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi, bằng vải, tay dài, có họa tiết màu đen-trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) Két sắt nhãn hiệu VIỆT TIỆP, kích thước (45x35x75)cm. Két sắt đã bị phá bung cửa phía trước là tài sản không còn giá trị. Đối với 01 (một) con dao mũi bằng, cán dao bằng gỗ tròn có chiều dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen – lưỡi dao sắt bén – có chiều dài 15,5cm – nơi rộng nhất 05cm; 01 (một) con dao mũi bằng, cán và lưỡi dao bằng kim loại màu đen, lưỡi dao sắc bén dài 27cm, rộng 7,5cm, cán dao dài 11cm; 01 (một) cây búa cán bằng gỗ tròn dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài (13,5 x 6,5) cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo cán bằng kim loại được ốp nhựa màu đen, mỗi cán dài 16cm, lưỡi bằng kim loại 9 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây tua vít bằng nhựa tròn dài 10cm, lưỡi mũi dài 17cm, đã qua sử dụng; 01 (một) thanh sắt dẹp dài 67 cm, đã qua sử dụng, bề rộng nhất là 2,5 cm, 01 (một) cây đục, cán bằng gỗ tròn dài 10 cm, lưỡi bằng kim loại dài (14 x 3) cm, đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội. Xét thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu bạc, số Seri: R58W811NSTF, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số Seri; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen, có gắn sim số 0816290669; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen, có gắn sim số 0763860814, màn hình bị vỡ không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số sim là công cụ dùng vào việc phạm tội. Xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đen-vàng, biển số 66F2-093.27, số khung: RLCUE3740PY196543, số máy: E32VE783507, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số khung, số máy do Phan Văn H đứng tên chủ sở hữu. Việc K dùng xe đi trộm cắp tài sản Hôn hoàn toàn không biết. Xét thấy cần trả lại xe mô tô nêu trên cho Phan Văn H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn Đ và Phan Tuấn K cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Nguyễn Văn T1, Phan Văn H cùng phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Tuấn K 12 (mười hai) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù theo bản án số 64/2023/HSST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh; buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 (mười hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 323; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Phan Tuấn K, Nguyễn Văn T1 và Phan Văn H.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ 589 Bộ luật dân sự.
Buộc các bị cáo Trần Văn Đ và Phan Tuấn K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Đặng Phú T3 số tiền 674.274.900 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần bằng vải, loại vải Jean, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi, bằng vải, tay dài, có họa tiết màu đen-trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) Két sắt nhãn hiệu VIỆT TIỆP, kích thước (45x35x75)cm. Két sắt đã bị phá bung cửa phía trước; 01 (một) con dao mũi bằng, cán dao bằng gỗ tròn có chiều dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen – lưỡi dao sắt bén – có chiều dài 15,5cm – nơi rộng nhất 05cm; 01 (một) con dao mũi bằng, cán và lưỡi dao bằng kim loại màu đen, lưỡi dao sắc bén dài 27cm, rộng 7,5cm, cán dao dài 11cm; 01 (một) cây búa cán bằng gỗ tròn dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài (13,5 x 6,5) cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo cán bằng kim loại được ốp nhựa màu đen, mỗi cán dài 16cm, lưỡi bằng kim loại 9 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây tua vít bằng nhựa tròn dài 10cm, lưỡi mũi dài 17cm, đã qua sử dụng; 01 (một) thanh sắt dẹp dài 67 cm, đã qua sử dụng, bề rộng nhất là 2,5 cm, 01 (một) cây đục, cán bằng gỗ tròn dài 10 cm, lưỡi bằng kim loại dài (14 x 3) cm, đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội. Xét thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu bạc, số Seri: R58W811NSTF, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số Seri; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen, có gắn sim số 0816290669; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đen, có gắn sim số 0763860814, màn hình bị vỡ không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số sim.
Trả lại cho Phan Văn H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đen-vàng, biển số 66F2-093.27, số khung: RLCUE3740PY196543, số máy: E32VE783507, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, không kiểm tra số khung, số máy do Phan Văn H đứng tên chủ sở hữu.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Phan Tuấn K, Nguyễn Văn T1 và Phan Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Trần Văn Đ và Phan Tuấn K phải liên đới nộp 30.970.996 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ CHỨA CHẤP TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ
