TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-PT Ngày 17 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thủy và ông Trần Công Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Phạm Anh T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 166/2024/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Anh T, sinh ngày 14/11/2005 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ H, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tâm L và bà Phạm Thị Hồng N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay; có mặt.
2. Dương Văn H, sinh ngày 12/11/2007 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn D, N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H1 và bà Đào Thị Á; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/9/2023, công an thành phố P xử lý vi phạm hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024; hiện đang bị áp dụng biện
pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Văn H: Bà Đào Thị Á, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; là mẹ đẻ bị cáo; vắng mặt.
3. Đỗ Huỳnh Đ, sinh ngày 10/9/2007 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H2 (đã chết) và bà Vũ Thị H3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/8/2022 Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 11/6/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Huỳnh Đ: Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; là mẹ đẻ bị cáo; có mặt.
4. Lê Đức H4, sinh ngày 14/4/2007 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị H5; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đức H4: Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; là mẹ đẻ bị cáo, có mặt.
5. Nguyễn Đức P, sinh ngày 14/12/2007 tại Thái Bình; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q và bà Mai Thị H6; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát; có mặt.
* Người đại diện hợp pháp, đồng thời là người bào chữa của bị cáo Nguyễn Đức P: Bà Mai Thị H6, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn A H, xã T huyện T, tỉnh Thái Bình; có mặt,
6. Trần Tiến Đ1, sinh ngày 03/02/2006 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H7 và bà Lương Thị N1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền
sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
7. Nguyễn Gia K, sinh ngày 02/02/2008 tại Hà Nam; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Thanh N2; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/01/2024, UBND phường T ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 06 tháng; nhân thân: Ngày 04/8/2022, Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Gia K: Bà Nguyễn Thị T1 - Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ phường T; vắng mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4, Nguyễn Gia K, Nguyễn Đức P: Bà Trần Thị Kim H8 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn H: Ông Nguyễn Văn T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 14 bị cáo và 18 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 28/5/2024, Hoàng Văn N3, Nguyễn Anh Đ2, Vũ Duy A, Ngô Tiến T3, Nguyễn Tiến Đ5, Nguyễn Gia K, Phạm Anh T, Dương Thanh T4, Vũ Hoàng T5, Đỗ Huỳnh Đ, Nguyễn Tấn T6, Nguyễn Việt H9 cùng nhau đi trên đường B, thành phố P thì nhóm bị một nhóm thanh niên lạ mặt đuổi theo nên bỏ chạy. Vũ Hoàng T5 cho rằng nhóm thanh niên đuổi mình ở phường L, thành phố P nên T5 đã gọi điện cho Phạm Vũ Đức Đ3 nói “Anh ơi bọn Lam Hạ trêu em, anh lên đánh chúng nó” thì Đ, Đ3 đồng ý. Đồng thời, nhóm của T5 chuẩn bị 02 gậy sắt ba khúc và 01 cây kiếm ống để đi tìm đánh nhóm thanh niên vừa đuổi theo nhóm mình, trong đó Nguyễn Tiến Đ5, T4 mỗi người cầm 01 gậy sắt ba khúc, Duy A cầm kiếm ống.
Trước đó, khoảng 20 giờ ngày 28/5/2024, Lê Đức H4, Lê Thành N4, Nguyễn Hoàng D, Trần Văn L1, Dương Văn H, Trần Tiến Đ1, Nguyễn Tấn D1 tập trung tại nhà Phạm Vũ Đức Đ3 ở thôn E C, xã B, huyện B thì Đức Đ3 rủ cả nhóm đi lên thị xã D, tỉnh Hà Nam để diễu đường. Khi đi, cả nhóm mang theo 03
con dao phóng lợn và 01 gậy sắt ba khúc trong đó Đức Đ3, Trần Tiến Đ1, L1 mỗi người cầm theo 01 dao phóng lợn, N4 cầm 01 gậy sắt ba khúc. Nhóm của Đức Đ3 di chuyển lên địa bàn thị xã D thì gặp nhóm gồm Nguyễn Hoàng P1, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Đức P, Đào Viết Hải Đ4, Nguyễn Hoàng Việt A1, Vũ Tú A2 vừa đi từ tỉnh Thái Bình sang để đi chơi, diễu đường. Trong nhóm này có Nguyễn Đức P cầm theo 01 cây kiếm. P1 quen các thanh niên trong nhóm Đức Đ3 nên nhóm P1 nhập vào nhóm của Đức Đ3 cùng đi diễu đường. Lúc này, Đức Đ3 nhận được điện thoại của T5 rủ lên thành phố P để đánh nhau thì Đức Đ3 rủ cả nhóm đi cùng và tất cả thành viên trong nhóm đều đồng ý.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, nhóm của Đức Đ3 di chuyển trên 07 xe mô tô đi lên đến ngã ba giao giữa đường Q với đường L, thành phố P thì gặp nhóm của T5 di chuyển trên 04 xe mô tô. Trong đó, Lê Đức H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS 29Y3- 444.81 chở Lê Thành N4 cầm theo 01 gậy sắt ba khúc; Nguyễn Hoàng D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario màu xanh đen, không đeo BKS chở Trần Văn L1 cầm theo 01 dao phóng lợn; Dương Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario, BKS 90B5- 055.58 chở Phạm Vũ Đức Đ3 cầm theo 01 dao phóng lợn; Trần Tiến Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh - đen - bạc, BKS 90B3- 461.08 chở Nguyễn Hoàng P1 cầm theo 01 dao phóng lợn; Nguyễn Văn Q1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, BKS 90AC-010.67 chở Nguyễn Hoàng Việt A1; Nguyễn Tấn D1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS 90B1- 908.66 chở Nguyễn Đức P cầm theo 01 cây kiếm; Đào Viết Hải Đ4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh - đen - bạc, BKS 17B6-630.46 chở Vũ Tú A2; Hoàng Văn N3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison, dán màu hồng, không đeo BKS chở Nguyễn Anh Đ2 và Vũ Duy A, trong đó Duy A cầm 01 cây kiếm ống; Ngô Tiến T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh - đen - đỏ, BKS 90B3-596.46 chở Nguyễn Tiến Đ5 và Nguyễn Gia K trong đó Nguyễn Tiến Đ5 cầm 01 gậy sắt ba khúc; Phạm Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS 90B3-595.28 chở Dương Thanh T4 và Vũ Hoàng T5, trong đó Dương Thanh T4 cầm 01 gậy sắt ba khúc; Đỗ Huỳnh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu xanh đen, không đeo BKS chở Nguyễn Tấn T6 và Nguyễn Việt H9. Hai nhóm của Phạm Vũ Đức Đ3 và Vũ Hoàng Tiến N5 vào nhau rồi cùng di chuyển trên các tuyến đường của thành phố P với tốc độ cao, cầm hung khí, lạng lách, đánh võng, bấm còi inh ỏi làm mất an ninh trật tự, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông.
Khoảng 23 giờ ngày 28/5/2024, khi cả nhóm di chuyển qua trước cổng trường Trung học cơ sở Nó thuộc đường L, phường L, thành phố P thì thấy Nguyễn Viết M1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, BKS 90B3-624.35 chở Đỗ Gia T7 đi ngược chiều. Cho rằng đây là hai thanh niên đã đuổi theo nhóm mình ở đường B trước đó nên cả nhóm quay xe đuổi theo M1 và T7. Thấy nhóm của T5 có đông xe, cầm theo nhiều hung khí nên M1 và T7 sợ hãi, điều khiển xe bỏ chạy về khu vực giáp vườn hoa Phủ Lý, gần cổng Tỉnh uỷ - Ủy ban nhân dân tỉnh H thuộc đường T, tổ A, phường Q, thành phố P rồi bỏ xe
lại ven đường, bỏ chạy vào trong vườn hoa. Các xe do N3, T3, T, H4, D, H, Trần Tiến Đ1, P điều khiển đuổi theo về đường T, Đ điều khiển xe chạy theo đường quốc lộ 1A vòng lên phía trên vào đường T để chặn đầu xe của M1, T7. Q1 và Đ4 điều khiển xe chạy sau cùng, không thuộc đường nên không đuổi theo kịp về đường T mà đi theo hướng quốc lộ A. M1, T7 bỏ xe lại thì L1 xuống xe, dùng cán dao phóng lợn đập vào xe của T7. Sau đó, cả nhóm giải tán trở về nhà.
Ngày 29/5/2024 và 31/5/2024, UBND phường L, phường Q và thành phố P có công văn xác định hành vi của các đối tượng có tính chất manh động, côn đồ, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt bình thường của người dân và đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý xử lý nghiêm các đối tượng.
Trong ngày 03/6/2024 và 05/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố P khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn N3, Vũ Duy A, Ngô Tiến T3, Nguyễn Tiến Đ5, Nguyễn Gia K, Dương Thanh T4, Nguyễn Tấn T6, Nguyễn Việt H9, Lê Đức H4, Lê Thành N4, Trần Văn L1, Dương Văn H, Phạm Vũ Đức Đ3, Trần Tiến Đ1, Nguyễn Hoàng P1, Nguyễn Hoàng Việt A1, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Đức P, Đào Viết Hải Đ4, Vũ Tú A2, Vũ Hoàng T5, Nguyễn Anh Đ2, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Hoàng D, Phạm Anh T, Đỗ Huỳnh Đ.
Quá trình khám xét thu giữ: 01 gậy ba khúc bằng kim loại, tay nắm bằng nhựa màu đen, chiều dài gậy là 63cm trong phòng ngủ tại tầng 2 của Ngô Tiến T3; 12 ống tuýp kim loại phi 21 có chiều dài lần lượt là 199.5cm, 282.7cm, 192cm, 233.8cm, 190.5cm, 294.5cm, 192.5cm, 204cm, 295.5cm, 293.7cm, 156.6cm, 194.8cm; 01 ống tuýp kim loại phi 25 chiều dài 120cm; 01 ống tuýp kim loại phi 21 dài 163cm, quấn băng dính màu đen; 09 dao bầu đã gi, chuôi có hàn tuýp sắt bằng kim loại có kích thước 26.8x7.3cm, 35.4x8.3cm, 27.3x7.4cm, 26x7.3cm, 26.8x7.2cm, 19.9x6.5cm, 27.2x6.6cm, 31.8x7.3cm, 28.2x7.1cm; 04 dao kim loại đã gỉ, phần đuôi có hàn tuýp sắt phi 21 có kích thước 42.5x5.3cm, 42.5x5.3cm, 47.2x5cm, 35.1x5.9cm; 01 dao kim loại đã gỉ, phần đuôi có hàn tuýp sắt phi 25, có kích thước 5.4x4.6cm tại sân phía sau nhà Phạm Vũ Đức Đ3; 01 kiếm chiều dài 63cm, không có vỏ, chuôi bằng nhựa màu đen tại gầm tủ phòng khách nhà Nguyễn Hoàng P1.
* Vật chứng, tài sản thu giữ:
- - Thu giữ của Vũ Duy A: 01 kiếm kim loại chiều dài 53cm, vỏ ngoài hình trụ màu đen dài 43cm, trên lưỡi kiếm ghi chữ “Baton Sword”; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu hồng, không đeo BKS, số máy JK03E8306292, số khung RLHJK0352PY155716;
- - Thu giữ của Ngô Tiến T3: 01 gậy ba khúc bằng kim loại, tay nắm bằng nhựa màu đen, chiều dài gậy là 63cm (gậy của Nguyễn Tiến Đ5 đưa cho T3 cất giữ);
- - Thu giữ của Phạm Vũ Đức Đ3: 12 ống tuýp kim loại phi 21 có chiều dài lần lượt là 199,5cm, 282,7cm, 192cm, 233,8cm, 190,5cm, 294,5cm, 192,5cm,
204cm, 295,5cm, 293,7cm, 156,6cm, 194,8cm; 01 ống tuýp kim loại phi 25 chiều dài 120cm; 01 ống tuýp kim loại phi 21 dài 163cm, quấn băng dính màu đen; 09 dao bầu đã gỉ, chuôi có hàn tuýp sắt bằng kim loại có kích thước 26.8x7.3cm, 35.4x8.3cm, 27.3x7.4cm, 26x7.3cm, 26.8x7.2cm, 19.9x6.5cm, 27.2x6.6cm, 31.8x7.3cm, 28.2x7.1cm; 04 dao kim loại đã gỉ, phần đuôi có hàn tuýp sắt phi 21 có kích thước 42.5x5.3cm, 42.5x5.3cm, 47.2x5cm, 35.1x5.9cm; 01 dao kim loại đã gỉ, phần đuôi có hàn tuýp sắt phi 25, có kích thước 5.4x4.6cm;
- - Thu giữ của Nguyễn Hoàng P1: 01 kiếm chiều dài 63cm, không có vỏ, chuỗi bằng nhựa màu đen (kiếm của Vũ Tú A2 đưa cho P1 cất giữ);
- - Thu giữ của Nguyễn Tấn T6: 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu xanh, không đeo BKS, số máy JK14E-0277339, số khung RLHJK1405PZ031006;
- - Thu giữ của Trần Văn L1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario màu xanh đen, đeo BKS 90AD-003.90, số máy JA69E6001093, số khung MH1JA4650RK001088;
- - Thu giữ của Nguyễn Tấn D1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, đeo BKS 90B1-980.66, số máy JF42E-0112483, số khung RLHJF4213DY112413;
- - Thu giữ của Đào Viết Hải Đ4: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave &, màu tím than, đeo BKS 17B6-630.46, số máy JA39E-2680315, số khung RLHJA3920NY183318;
- - Thu giữ của Nguyễn Tiến Đ5: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh - đen - đỏ, BKS 90B3-596.46, số máy JK03E-8010778, số khung RLHJK0329NY010708;
- - Thu giữ của Nguyễn Hoàng P1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, BKS 90B3-461.08, số máy JA39E-2381405, số khung RLHJA3928MY261116;
- - Thu giữ của Dương Thanh T4: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS 90B3-595.28, số máy JF95E-0184045, số khung RLHJF9501NY168951;
- - Thu giữ của Lê Đức H4: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS2 44481, số máy KF26E-0029775, số khung RLHKF2517EY029737.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự (đối với tất cả các bị cáo); khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo (Phạm Anh T, Đỗ Huỳnh Đ); khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với Phạm Anh T); các Điều 55, 56, 103, 104 Bộ luật Hình sự (đối với Phạm Anh T); các Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự (đối với các bị
cáo Nguyễn Gia K, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P); Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Phạm Anh T, Trần Tiến Đ1).
1. Tuyên bố các bị cáo: Phạm Anh T, Nguyễn Gia K, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Trần Tiến Đ1, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Xử phạt các bị cáo:
- - Phạm Anh T 37 (ba mươi bẩy) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là 18 (mười tám) tháng tù; buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 55 (năm mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024 (được trừ thời hạn tạm giữ theo Bản án số 63/2024/HS-ST từ ngày 02/10/2023 đến ngày 07/10/2023).
- - Trần Tiến Đạt 3 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Nguyễn Gia K 29 (hai mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Đỗ Huỳnh Đ 29 (hai mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Lê Đức H4 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Nguyễn Đức P 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Dương Văn H 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về điều luật áp dụng, hình phạt chính với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Trong thời hạn luật định, bị cáo Lê Đức H4, Nguyễn Đức P, Nguyễn Gia K, Đỗ Huỳnh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Các bị cáo Dương Văn H, Phạm Anh T, Trần Tiến Đ1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Lê Đức H4, Nguyễn Đức P, Đỗ Huỳnh Đ, Trần Tiến Đ1, Phạm Anh T đều giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Dương Văn H bổ sung yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Gia K thay đổi yêu cầu kháng cáo, bị cáo không kháng cáo xin hưởng án treo mà chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp phúc thẩm. Về nội dung vụ án: Bản án sơ thẩm số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý đã tuyên bố các bị cáo Phạm Anh T, Nguyễn Gia K, Dương Văn H, Đỗ
Huỳnh Đ, Trần Tiến Đ1, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 (đối với các bị cáo Trần Tiến Đ1, Phạm Anh T và Nguyễn Gia K); điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (đối với các bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P). Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Lê Đức H4, Nguyễn Đức P, Dương Văn H và Đỗ Huỳnh Đ; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của tất cả các bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân thành phố P, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và 50 (đối với tất cả các bị cáo); khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, các Điều 55, 56, 103, 104 (đối với Phạm Anh T); các Điều 90, 91 (đối với các bị cáo Nguyễn Gia K, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P); Điều 101 Bộ luật Hình sự (Đối với bị cáo Nguyễn Gia K); Điều 65 (đối với các bị cáo Lê Đức H4, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ và Nguyễn Đức P); Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Phạm Anh T và Trần Tiến Đ1). Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt các bị cáo:
- Phạm Anh T 37 tháng tù, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là 18 tháng tù; buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 55 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024 (được trừ thời hạn tạm giữ theo Bản án số 63/2024/HS-ST từ ngày 02/10/2023 đến ngày 07/10/2023).
- Trần Tiến Đ1 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- Nguyễn Gia K 29 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- Đỗ Huỳnh Đ 29 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 58 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Dương Văn H 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Lê Đức H4 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Nguyễn Đức P 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đảm bảo đúng quy định tại Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của cấp phúc thẩm.
[2] Về hành vi và tội danh: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định: Tối ngày 28/5/2024 tại thành phố P, Phạm Anh T, Nguyễn Tấn D1, Đào Viết Hải Đ4, Nguyễn Hoàng Việt A1, Nguyễn Gia K, Phạm Vũ Đức Đ3, Hoàng Văn N3, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Dương Thanh T4, Nguyễn Tiến Đ5, Nguyễn Tấn T6, Trần Tiến Đ1, Vũ Duy A, Ngô Tiến T3, Liên Nguyễn Việt H9, Lê Đức H4, Lê Thành N4, Trần Văn L1, Nguyễn Đức P, Nguyễn Hoàng P1 điều khiển xe mô tô di chuyển trên các tuyến đường của thành phố P, không đội mũ bảo hiểm, đi với tốc độ cao, liên tục bấm còi, lạng lách, đánh võng, mang theo dao, kiếm, gậy ba khúc, ống tuýp kim loại gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, đuổi đánh, đập xe mô tô của anh Đỗ Gia T7. Hành vi của các đối tượng có tính chất manh động, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây mất trật tự, an toàn giao thông, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường của người dân trên địa bàn thành phố P.
Do đó hành vi của các bị cáo Phạm Anh T, Nguyễn Tấn D1, Đào Viết Hải Đ4, Nguyễn Hoàng Việt A1, Nguyễn Gia K, Phạm Vũ Đức Đ3, Hoàng Văn N3, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Dương Thanh Tùng Nguyễn Tiến Đ5, Nguyễn Tấn T6, Trần Tiến Đ1, Vũ Duy A, Ngô Tiến T3, Nguyễn Hoàng P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Như vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã quyết định, tuyên bố các bị cáo Phạm Anh T, Nguyễn Tấn D1, Đào Viết Hải Đ4, Nguyễn Hoàng Việt A1, Nguyễn Gia K, Phạm Vũ Đức Đ3, Hoàng Văn N3, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Dương Thanh Tùng Nguyễn Tiến Đ5, Nguyễn Tấn T6, Trần Tiến Đ1, Vũ Duy A, Ngô Tiến T3, Nguyễn Hoàng P1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo để áp dụng hình phạt chính là có căn cứ.
Xét vai trò của các bị cáo có kháng cáo; trong đó, bị cáo Trần Tiến Đ1 vừa chuẩn bị công cụ là 01 dao phóng lợn vừa điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Hoàng P1 cầm theo 01 dao phóng lợn nên giữ vai trò thứ nhất; các bị cáo Nguyễn Gia K, Nguyễn Đức P, Phạm Anh T, Lê Đức H4, Đỗ Huỳnh Đ và Dương Văn H đều là đồng phạm giữ vai trò thứ hai.
Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo xuất trình tài liêu gồm: Gia đình bị cáo Lê Đức H4 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có anh trai của ông nội và em trai
của bà nội là Liệt sỹ, gia đình được tặng bằng khen tổ quốc ghi công, chị gái là Lê Thị Như Q2 đang bị ung thư. Bị cáo Nguyễn Gia K có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang ở cùng bà ngoại đã già yếu, bố mẹ bị cáo chưa kết hôn, bố bỏ đi, mẹ đang phải chấp hành án phạt tù tại trại giam N7. Bị cáo Trần Tiến Đ1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị cáo bỏ đi nên bị cáo không có sự chăm sóc, nuôi dưỡng thường xuyên từ gia đình. Bị cáo Nguyễn Đức P có ông ngoại là Mai Văn C thuộc diện người có công với cách mạng, là thương binh loại A, thương tật hạng 4. Bị cáo Dương Văn H luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật đia phương, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới mà các bị cáo Lê Đức H4, Nguyễn Gia K, Trần Tiến Đ1, Nguyễn Đức P và Dương Văn H được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy, bị cáo Trần Tiến Đ1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ nhất trong các bị cáo kháng cáo, khi phạm tội bị cáo đã trên 18 tuổi, đủ độ tuổi để nhận thức hành vi phạm tội nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Gia K có nhân thân xấu và đang có 01 tiền sự nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm. Mặc dù được hưởng các tình tiết giảm nhẹ nhưng cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong cộng đồng. Do đó không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Tiến Đ1 và Nguyễn Gia K.
Bị cáo Phạm Anh T có 01 tiền án nay lại tiếp tục phạm tội mới nên cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có vai trò thứ trong vụ án nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đưa ra đối với các bị cáo Nguyễn Đức P, Lê Đức H4, Đỗ Huỳnh Đ và Dương Văn H là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt các bị cáo.
Xét, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P thấy các bị cáo đều là người không có tiền án, tiền sự, thực hiện tội phạm với vai trò thứ trong vụ án, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi có thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng hình phạt nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa là phù hợp. Như vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Phạm Anh T, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo Trần Tiến Đ1 và Nguyễn Gia K không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Trần Tiến Đ1 và Nguyễn Gia K. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Tiến Đ1 và Nguyễn Gia K.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Phạm Anh T. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Anh T.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân thành phố P, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và 50 (đối với tất cả các bị cáo); khoản 5 Điều 65, các Điều 55, 56, 103 và 104 (đối với Phạm Anh T); các Điều 90, 91 (đối với các bị cáo Nguyễn Gia K, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P); Điều 101 (đối với bị cáo Nguyễn Gia K); Điều 65 (đối với các bị cáo Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Lê Đức H4 và Nguyễn Đức P); Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Phạm Anh T, Trần Tiến Đ1).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo: Phạm Anh T, Nguyễn Gia K, Dương Văn H, Đỗ Huỳnh Đ, Trần Tiến Đ1, Lê Đức H4, Nguyễn Đức P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Xử phạt các bị cáo:
- - Phạm Anh T 31 (Ba mươi mốt) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là 18 (mười tám) tháng tù; buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 49 (Bốn mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024 (được
trừ thời hạn tạm giữ theo Bản án số 63/2024/HS-ST từ ngày 02/10/2023 đến ngày 07/10/2023).
- - Trần Tiến Đạt 3 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Nguyễn Gia K 29 (Hai mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024.
- - Đỗ Huỳnh Đ 29 (Hai mươi chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 58 (Năm mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- - Dương Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (Bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- - Lê Đức H4 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- - Nguyễn Đức P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Huỳnh Đ cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Dương Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lê Đức H4 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Đức P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
[3] Về án phí: Các bị cáo Trần Tiến Đ1 và Nguyễn Gia K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn San |
Bản án số 11/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 11/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
