Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-PT

Ngày 14/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
  • Các Thẩm phán: ông Hoàng Tuấn Trọng và ông Phạm Trung Thực.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/HSPT ngày 25 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

  • - Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 2003, tại: xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn P, xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972; Vợ: Đỗ Nguyễn Đài G; Con: 01 sinh 2/9/2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  • - Bị hại không có kháng cáo: anh Trần Văn Á, sinh năm 2001. Địa chỉ: thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • - Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 2000(vắng mặt). Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    • - Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1995(có mặt).
    • - Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972(có mặt). Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
    • - Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1974(vắng mặt). Địa chỉ: thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Q và anh Nguyễn Xuân T cùng làm công nhân tại Công ty M1, có địa chỉ tại: Xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Do có nghi ngờ anh T và chị Đỗ Nguyễn Đài G, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (là người chung sống như vợ chồng với Q) có quan hệ tình cảm với nhau nên khoảng 14 giờ ngày 07/03/2024, Q hẹn gặp anh T tại khu vực cầu T, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Q điều khiển xe nhãn hiệu Honda SH mode, biển số 89B2-211.60 từ Công ty M1 về nhà lấy 01 con dao, loại dao phay, dài khoảng 40cm, chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 04cm, mũi dao tầy rồi bỏ vào cốp xe máy. Q tiếp tục đi xe sang nhà ông Nguyễn Văn L ở cùng thôn tìm thì gặp Nguyễn Trung K (là anh ruột của Q). Q nói với K "thằng đi với cái G nó hẹn gặp em ở cầu T, anh đi với em lên xem thế nào" thì K đồng ý đi cùng. Q điều khiển xe máy chở K đi đến đoạn đường đê thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T gặp anh T như đã hẹn. Một lúc sau, anh Trần Văn Á điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH chở anh T đi đến. Thấy anh T đi đến, Q nói với K "kia thằng đấy kia kìa" thì K nói “để anh ra nói chuyện" đồng thời cả hai đi bộ lại gần vị trí của anh T và anh Ánh. K và anh T bắt tay chào hỏi nhau còn anh Ánh đi loanh quanh gần đó thì nhìn thấy 01 con dao, dạng dao chặt, dài khoảng 40cm, bản rộng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, mũi dao tầy ở dưới nền đường thì anh Ánh nhặt lên cầm ở tay phải rồi đi lại vị trí anh T và K đang nói chuyện. Thấy anh Á cầm dao, K nắm lấy cổ tay phải anh Ánh để giằng con dao, đồng thời nói “anh em cứ bỏ dao ra để nói chuyện”. Thấy K và anh Ánh giằng co con dao thì Q nghĩ Á dùng dao để chém Q và K nên Q đi ra mở cốp xe máy của mình lấy con dao cất giấu trước đó, cầm ở tay phải rồi chạy đến vị trí anh Ánh và K. Thấy vậy, anh Ánh quay người định bỏ chạy về hướng dệ đê bên phải theo hướng cầu T đi thành phố H thì Q cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống dưới trúng bả vai bên phải anh Ánh làm anh Ánh rơi con dao đang cầm trên tay xuống đất. Anh Ánh tiếp tục vùng dậy bỏ chạy xuống dệ đê thì Q đuổi theo tiếp tục dùng dao chém 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vùng giữa sống lưng, trượt xuống vùng thắt lưng bên trái làm anh Ánh bị ngã xuống nền dệ đê ở tư thế nằm sấp. Anh Ánh quay người lại định bỏ chạy thì Q tiếp tục dùng dao chém liên tiếp 02 nhát, anh Ánh đưa tay phải lên đỡ thì bị chém trúng cẳng tay phải. Quá trình Q đuổi chém anh Ánh thì K đuổi theo kéo Q lại nhưng không được. Trong lúc K kéo Q lại thì anh T hô hoán chạy đi bạn ơi” rồi nhặt 02 chiếc tông dưới nền đường ném trúng chân K sau đó điều khiển xe máy bỏ chạy

2

về hướng thành phố H, thì K nhặt con dao anh Ánh làm rơi trước đó đuổi theo ném con dao về phía anh T nhưng không trúng. Lúc này, anh Ánh vùng dậy bỏ chạy theo đường bê tông về phía nhà dân thì Q không đuổi theo nữa. K đi ra nói với Q “về thôi em ơi” thì Q cầm theo con dao rồi điều khiển xe máy chở K đi về nhà. Trên đường về Q ném con dao xuống sông H gần khu vực cầu H, thuộc địa phận xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Sau khi Q và K bỏ đi, anh Á đi bộ lên dốc đê thì anh Trường Q1 lại điều khiển xe máy chở anh Á đến bệnh viện Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình khám, điều trị vết thương.

Ngày 08/3/2024, anh Ánh làm đơn trình báo gửi Công an huyện T và đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 27/2024/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 18/3/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H đối với thương tích của anh Trần Văn Á kết luận:

  • - 01 vết sây sát da kích thước nhỏ ở vùng lưng gần đốt sống cổ số G, tỷ lệ 1%.
  • - 01 vết thương kích thước trung bình dọc vùng lưng đoạn cột sống ngực, tỷ lệ 2%.
  • - 01 vết sây sát da kích thước trung bình chéo mặt sau bờ trên vai phải, tỷ lệ 2%.
  • - 01 vết thương kích thước lớn dọc sau bờ ngoài bả vai phải, tỷ lệ 3%.
  • - 01 vết thương nhỏ chéo vùng dưới lưng trái cạnh cột sống L5, tỷ lệ 1%.
  • - 02 vết thương kích thước trung bình chéo mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải, mỗi vết tỷ lệ 2%.
  • - Còn đau nhiều tại các vị trí tổn thương. Theo dõi tổn thương xương vùng lưng, vai phải và tay phải tương ứng với các vị trí vết thương.
  • - Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 12%.
  • - Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc và chà sát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên.
  • - Hiện tại các tổn thương đang trong quá trình điều trị cũng có thể để lại các di biến chứng hoặc tổn thương chưa được tầm soát hết khi chưa kết thúc điều trị. Các yếu tố này có thể làm thay đổi tỷ lệ % tổn thương cơ thể. Vậy đề nghị cơ quan trưng cầu cho bị hại giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định hoặc khi cần thiết.

Tại bản kết luận giám định bổ sung số 45/2024/KLTTCT-BS-TTPY&GĐYK ngày 06/5/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H đối với thương tích của anh Trần Văn Á kết luận:

  • - 01 vết sây sát da kích thước nhỏ ở vùng lưng gần đốt sống cổ 7, tỷ lệ 1%.

3

  • - 01 vết thương kích thước trung bình dọc vùng lưng đoạn cột sống ngực, tỷ lệ 2%.
  • - 01 vết sây sát da kích thước trung bình chéo mặt sau bờ trên vai phải, tỷ lệ 2%.
  • - 01 vết thương kích thước lớn dọc sau bờ ngoài bả vai phải, tỷ lệ 3%.
  • - 01 vết thương nhỏ chéo vùng dưới lưng trái cạnh cột sống L5, tỷ lệ 1%.
  • - 02 vết thương kích thước trung bình chéo mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải, mỗi vết tỷ lệ 2%.
  • - Mẻ xương trụ tay phải vị trí 1/3 trên, tỷ lệ 2%.
  • - Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14%.
  • - Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc và chà sát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc mũ lưỡi trai màu nâu, đã cũ; 01 đôi tông nhãn hiệu asiasports, màu trắng, chiếc bên phải bị tuột quai; 01 đôi tông màu đen, chiếc bên trái bị đứt quai; 01 chiếc quần dài, dạng quần bò màu xám đen, gắn tem DSQ2 và 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, gắn tem AH MAN.

Đối với con dao Quyết sử dụng gây thương tích cho anh Á và con dao K sử dụng ném anh T: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm những con dao trên tuy nhiên đều không thấy.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra sự việc, Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho người bị hại Trần Văn Á số tiền 75.000.000 đồng. Anh Ánh đã nhận đủ tiền bồi thường và cam kết không có yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi giấy mời người chăm sóc anh Ánh trong thời gian điều trị vết thương là bà Đỗ Thị M (mẹ đẻ của anh Ánh) nhiều lần nhưng bà M đều không đến làm việc. Đến nay bà M chưa có yêu cầu, đề nghị về việc bà bị mất thu nhập trong thời gian chăm sóc anh Ánh.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HSST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

  • Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
  • Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt,

4

xin cải tạo tại địa phương. Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo giao nộp biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm, đơn xin cải tại tại địa phương có xác nhận của chính quyền địa phương, đơn trình bày về sự việc của người bị hại, bằng tổ quốc ghi công của bác bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn Q giữ nguyên kháng cáo, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân, diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo theo quy định tại theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự với mức hình phạt 02 năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan, mức hình phạt đối bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên các CQTH TT cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” để truy tố và xét xử bị cáo là chưa chính xác, chưa phù hợp với diễn biến khách quan sự việc, gây bất lợi cho bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, bị hại có đơn mô tả lại diễn biến khách quan sự việc, xác định bản thân bị hại cũng có lỗi gây hiểu lầm cho bị cáo, dẫn đến bị cáo gây thương tích cho bị hại, đồng thời đề nghị cho bị cáo cải tạo tại địa phương. Đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình của bản án sơ thẩm và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Văn Q đảm bảo về hình thức,trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử phúc thẩm, xét thấy:

[2.1]. Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ ngày 07/03/2024, tại đường đê thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên, do mâu thuẫn cá nhân với anh Nguyễn Xuân T từ trước nên Nguyễn Văn Q và anh T hẹn gặp nhau để giải

5

quyết mâu thuẫn. Khi thấy anh Trần Văn Á (là người đi cùng anh T) và Nguyễn Trung K (là anh trai của Q) giằng co nhau 01 con dao, Q nghĩ anh Á dùng dao chém Q và K nên đã sử dụng 01 con dao, loại dao phay, dài khoảng 40cm, chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 04cm, mũi dao tầy (là hung khí nguy hiểm) chém nhiều nhát trúng vùng lưng, bả vai phải và cẳng tay phải anh Ánh. Hậu quả: Anh Ánh bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.

Bởi hành vi trên của Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội danh và áp dụng điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” là chưa chính xác, bởi lẽ: Khi anh K đang nói chuyện với anh T thì bị hại Á đi loanh quanh gần đó, nhặt dao rồi đi đến chỗ hai người, thấy vậy anh K có nói “anh em cứ bỏ dao ra để nói chuyện” dẫn đến giữa anh K và bị hại giằng co con dao. Nghĩ rằng anh Á dùng dao chém anh K nên bị cáo mới ra mở cốp xe máy của mình lấy dao cất dấu trước đó, cầm ở tay phải chạy đến vị trí anh Ánh và anh K, đuối theo anh Ánh và chém. Như vậy phải xác định rằng chính anh Ánh là người có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, bản thân bị hại cũng có văn bản mô tả về diễn biến sự việc và thừa nhận như vậy.

[2.2]. Về hình phạt:

Sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường cho anh Ánh nhằm khắc phục hậu quả; Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; Bị hại xin rút yêu cầu khởi tố, tại phiên tòa đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo giao nộp Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, đơn xin hưởng án treo, bằng khen tổ quốc ghi công của bác bị cáo và đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hiện bị cáo là lao động duy nhất nuôi con nhỏ do vợ bị cáo đã li thân và đang đi lao động tại Đài Loan.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và đưa ra mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cứ trú rõ ràng, phạm tội lần đầu do bột phát và người bị hại cũng có lỗi nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[3]. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của của bị cáo.

6

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HSST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02(hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04(bốn) năm tính từ ngay tuyên án phúc thẩm(14/3/2025)về tội Cố ý gây thương tích.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho UBND xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Quyết định của bản án sơ thẩm tại biên lai thu số 0000446 ngày 06/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

7

Nơi nhận:

  • - Vụ KTGĐ I - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND, VKSND huyện Tiên Lữ;
  • - Chi cục THSDS huyện Tiên Lữ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Kiên

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 11/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: g
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger