|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30/12/2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Gia Phượng.
- Ông Hà Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Số A, khu dân cư T, phường P, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Công ty L1 - Chi nhánh H2 (Địa chỉ: Số H đường N, phường T, thành phố Hải Phòng). Cán bộ pháp lý được phân công thực hiện công việc theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993.
- Bà Trịnh Thanh H, sinh năm 1998.
- Bà Trịnh Thị L, sinh năm 2001.
Đều có địa chỉ: Số H đường N, phường T, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1998.
Nơi ĐKHKTT: Số B, khu dân cư T, phường P, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: 496-0845 Số A, G, Tòa nhà A, 4-10-1 E-cho, thành phố T, tỉnh Aichi, Nhật Bản.
Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993
Địa chỉ: Số H đường N, phường T, thành phố Hải Phòng.
(Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện cũng như các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/3/2024 tại UBND phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống cùng gia đình anh H1 tại khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho hôn lễ, chị và gia đình anh Nguyễn Văn H1 đã xảy ra mâu thuẫn, chỉ vì bất đồng quan điểm giữa chị và em gái anh H1 trong việc tổ chức, trang trí phòng cưới. Em gái anh H1 liên tục chửi mắng chị, đòi hủy cưới, trong khi đó anh H1 không một lời bênh vực chị, để mặc mẹ và em gái mắng nhiếc chị. Vì là việc lớn của đời người nên bản thân chị cũng bỏ qua để cùng nhau tổ chức đám cưới vào ngày 29-30/03/2024. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống cùng gia đình anh H1 tại khu T, phường P, tỉnh Phú Thọ. Đến tháng 11/2024, anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Mọi chi phí anh học để anh H1 được sang Nhật Bản làm việc đều do một tay chị lo liệu bằng tiền tích cóp riêng của chị cũng như của hồi môn bố mẹ cho. Thế nhưng anh H1 lại không ghi nhận công sức của chị, càng ngày càng thay tính đổi nết, trở thành một con người bạc bẽo, vô ơn. Đã là vợ chồng thì chỉ mong cùng nhau đồng hành để gây dựng tương lai lại nhưng anh H1 thờ ơ với tất cả mọi thứ, không yêu thương, không chăm sóc, không lắng nghe cũng chưa bao giờ hỏi xem bản thân chị cần gì. Thời điểm tháng 7/2025, khi chị có bầu do thai yếu chị phải nghỉ làm để dưỡng thai thậm chí khi chị bị sảy thai anh H1 cũng vẫn thờ ơ, không quan tâm đến chị. Hơn thế nữa, anh H1 còn là một người đàn ông nhu nhược, khi thấy vợ bị mẹ chồng, em gái chồng chửi rủa, mắng nhiếc nói chị vô sinh, không biết đẻ hay kiếm cớ đặt điều, sỉ nhục chị trong mọi chuyện từ lớn đến nhỏ thì anh H1 vẫn cho qua, không biết cân bằng, dung hòa mối quan hệ giữa vợ và mẹ đẻ, em gái, khiến cho cuộc sống sau khi kết hôn của chị vô cùng ngột ngạt, không có một ngày hạnh phúc trọn vẹn. Do mỗi người sống một nơi nên cuộc sống vợ chồng ngày càng xa cách và không còn quan tâm đến nhau mặc dù hai vợ chồng đã rất cố gắng để hòa giải và hàn gắn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có, không đề nghị giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Sau khi kết hôn, anh và chị Huỳnh Thị T chung sống tại khu dân cư T, phường P, tỉnh Phú Thọ cùng với mẹ đẻ anh. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng càng về sau thì càng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, bất đồng trong việc chi tiêu trong gia đình và cách nhìn nhận cuộc sống của hai bên không phù hợp với nhau. Đến tháng 11/2024, anh sang Nhật Bản để làm việc. Cuộc sống vợ chồng xa cách nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, to tiếng với nhau. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng để hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể cứu vãn. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Huỳnh Thị T được ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có, không đề nghị giải quyết.
Tại phiên tòa ngày 30/12/2025:
Nguyên đơn chị Huỳnh Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt anh H1 vẫn giữ nguyên quan điểm tại Bản tự khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn H1. Chị T và anh H1 đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường P, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy anh H1 hiện đang sinh sống, làm việc tại Nhật Bản. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Huỳnh Thị T ủy quyền cho Công ty L1 - Chi nhánh H2 thay chị nộp, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, cán bộ của Công ty đã giao nộp cho Tòa án đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt và các tài liệu chứng cứ liên quan. Anh Nguyễn Văn H1 hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, tuy nhiên anh H1 ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T1 nộp, nhận các văn bản tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Anh T1 đã giao nộp cho Tòa án: Bản tự khai, Hộ chiếu, Đơn xin xét xử vắng mặt, Giấy ủy quyền của anh H1 (đều có chứng thực của Đại sứ quán nước C tại Nhật Bản). Quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh H1 đều đề nghị Tòa án không tiến hành hoà giải và xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và phiên tòa xét xử vụ án. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hoà giải được mà chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Nguyên đơn chị Huỳnh Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ) ngày 06/3/2024 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H1 không quan tâm đến chị và là một người đàn ông nhu nhược không biết cân bằng, dung hòa mối quan hệ giữa vợ và mẹ đẻ, em gái. Về phía anh H1 cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, bất đồng trong việc chi tiêu trong gia đình và cách nhìn nhận cuộc sống của hai bên không phù hợp với nhau. Do mỗi người sống một nơi nên cuộc sống vợ chồng ngày càng xa cách, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn và không còn quan tâm đến nhau mặc dù hai vợ chồng cũng như gia đình hai bên đã rất cố gắng để hòa giải và hàn gắn.
Tại phiên tòa hôm nay, chị T và anh H1 vắng mặt nhưng đã có quan điểm thể hiện tại Bản tự khai là đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho chị T được ly hôn với anh H1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh H1 xác định vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh H1 xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Huỳnh Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 469, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị quyết 01/2025/UBTVQH ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004251 ngày 24/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Huỳnh Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm. Anh Nguyễn Văn H1 cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 2 - Phú Thọ; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Phú Thọ; - Các đương sự; - UBND phường Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; (ĐKKH năm 2024 tại UBND P. Hùng Vương cũ) - Lưu HS-VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hà Thu |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hôn nhân và gia đình
