Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 11/2025/HNGD-ST.

Ngày: 26/3/2025.

Về việc: “ Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1. Ông Nguyễn Văn Hợi
  2. 2. Ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình về việc kiện tranh chấp ly hôn thụ lý số 211/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXX ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan S, sinh năm 1989; (Có mặt).

ĐKTT: Xóm Mịt, xã Nhã Lộng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Nơi ở: Tổ 1, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm M, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Lan S trình bày:

Chị và anh H kết hôn với nhau ngày 31/3/2010 tại UBND xã N, huyện P trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì cho đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H ham chơi bời không tu chí làm ăn. Từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 22/4/2011, Nguyễn Thị Phương H2, sinh ngày 23/4/2013, Nguyễn Minh P, sinh ngày 02/6/2017. Sau khi ly hôn chị nhất trí để anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 03 con chung vì hiện nay chị chưa có chỗ ở ổn định, công việc của chị lại thường xuyên phải đi làm ca đêm nên không có ai giúp đỡ trông nom và đưa đón con đi học trong thời gian chị đi làm ca đêm còn anh H có bố mẹ đẻ giúp đỡ, hơn nữa chị cũng không muốn các con phải sống xa nhau.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị xin tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Anh Nguyễn Văn H trình bày:

Năm 2010 anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Lan S, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn, chị S xin ly hôn anh không nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 22/4/2011, Nguyễn Thị Phương H2, sinh ngày 23/4/2013, Nguyễn Minh P, sinh ngày 02/6/2017. Sau khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 03 con chung. Nếu được nuôi con anh không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh H xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Phú Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự . VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S. Cho chị Nguyễn Thị Lan S được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  • + Về con chung: áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giao 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 22/4/2011, Nguyễn Thị Phương H2, sinh ngày 23/4/2013, Nguyễn Minh P, sinh ngày 02/6/2017 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu. Chị S được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  • + Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
  • + Án phí và quyền kháng cáo: chị S phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn, anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại xóm M, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn là anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung:

[3] Chị Nguyễn Thị Lan S và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

[4] Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xảy ra cãi vã, từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai, nay chị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng anh H, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để giải phóng cho nhau. Về phía anh H không nhất trí ly hôn, anh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, nhưng cũng thừa nhận từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Toà án hoà giải, cho các đương sự thời gian để có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H không tham gia hòa giải, chị S kiên quyết xin được ly hôn để giải phóng cho nhau

[5] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Tuy nhiên, quan hệ vợ chồng giữa chị S và anh H đã không còn có tình nghĩa vợ chồng, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc chung trong gia đình, trên thực tế, chị S và anh H đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ chung sống với nhau. Điều đó cho thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do vậy cần chấp nhận cho chị S được ly hôn anh H là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[6] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 22/4/2011, Nguyễn Thị Phương H2, sinh ngày 23/4/2013, Nguyễn Minh P, sinh ngày 02/6/2017. Sau khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 03 con chung. Chị S cũng nhất trí để anh H được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung.

Nguyên vọng của cháu Nguyễn Thị Thu H1 và cháu Nguyễn Thị Phương H2 muốn được ở với bố, cháu Nguyễn Minh P muốn được ở với mẹ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

  • “ 1. Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của luật này, bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
  • 2. Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
  • 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Xét về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì anh H có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tốt hơn chị S vì chị S không có chỗ ở ổn định thường xuyên phải đi làm ca đêm, không có ai hỗ trợ việc trông nom và đưa đón con trong thời gian chị đi làm, như vậy sẽ anh hưởng rất lớn đến việc chăm sóc, giáo dục con. Việc chị S nhất trí để cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung là phù hợp với điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và đảm bảo được việc chăm sóc, giáo dục con chung được tốt nhất. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Hội đồng xét xử quyết định giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con chung Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 22/4/2011, Nguyễn Thị Phương H2, sinh ngày 23/4/2013, Nguyễn Minh P, sinh ngày 02/6/2017 là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị S không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị S, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về tài sản chung của vợ chồng: Hai bên đương sự xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về khoản nợ chung: Hai bên đương sự xác định không có khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[10] Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Điều 271, 273, Điều 483 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58 Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí; Các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lan S;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Lan S được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 22/4/2011, Nguyễn Thị Phương H2, sinh ngày 23/4/2013, Nguyễn Minh P, sinh ngày 02/6/2017 cho đến con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Chị S không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị S, anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan S phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003989 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

  1. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Lan S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Nhã Lộng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGD-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger