|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số:11/2025/HNGĐ-ST Ngày 23/5/2025 V/v không công nhận là vợ chồng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nhan Ngọc Đăng.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Xuân Hòa và bà Nguyễn Thị Thuận.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Trang.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 11/02/2025 về việc “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: anh Trương Văn T, sinh năm: 1975; địa chỉ: thôn M, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- - Bị đơn: chị Bùi Thị H, sinh năm: 1975; địa chỉ thôn M, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 02 năm 2025, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn anh Trương Văn T trình bày:
Anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay tại xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, thường xuyên cãi vã nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể kéo dài, anh T làm đơn yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng với chị H. Về con chung, có 03 con chung là cháu Trương Văn T1, sinh ngày 13/12/1994, cháu Trương Thị Thanh T2, sinh ngày 18/11/1995 và cháu Trương Thị Thùy L, sinh ngày 14/9/2000. Các con hiện đều đã thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng chị H đều không có ý kiến liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn cũng như không tham gia vào các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời không nhận các văn bản tố tụng nên Tòa án phải tiến hành niêm yết theo quy định.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: không công nhận anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H là vợ chồng.
- + Về con chung: không xem xét.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- + Về án phí: anh Trương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Căn cứ khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Không công nhận là vợ chồng”.
- Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn chị Bùi Thị H có địa chỉ cư trú tại thôn M, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Nên Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết là đúng quy định theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Bùi Thị H theo đúng quy định của BLTTDS nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, anh T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng với chị H.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã G (cán bộ tư pháp hộ tịch) xác nhận nguyên đơn, bị đơn có sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Việc anh T, chị H có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng trong quá trình chung sống lại không đăng ký kết hôn theo đúng trình tự, thủ tục, không có giấy tờ chứng minh đã kết hôn là vi phạm các quy định của pháp luật về hôn nhân, hộ tịch.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Mặt khác, theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn không công nhận anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H là vợ chồng.
- Về con chung: trong quá trình chung sống anh T và chị H có 03 con chung là cháu Trương Văn T1, sinh ngày 13/12/1994, cháu Trương Thị Thanh T2, sinh ngày 18/11/1995 và cháu Trương Thị Thùy L, sinh ngày 14/9/2000. Các con hiện đều đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: anh Trương Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14 Luật HNGĐ; khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: không công nhận anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H là vợ chồng.
- Về con chung: không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: anh Trương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/2023, số 0000440 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh. Chị T3 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nhan Ngọc Đăng |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về không công nhận là vợ chồng
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận là vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T và Bùi Thị H "không công nhận là vợ chồng"
