trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng

2. Ông Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tháp- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 657/2024/TLST-HNG ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Đ, sinh năm 1970

Nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt chị Đ, anh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 24/10/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Ngô Thị Đ trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Trần Văn P lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 16/12/1991 tại UBND xã N, S, Hà Nội. Sau khi lấy nhau vợ chồng chị sống cùng gia đình anh P tại thôn X, N, S, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh P thường xuyên rượu chè về đánh chửi chị, đuổi chị đi. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng chị P không thay đổi. Từ cuối năm 2023 chị bỏ ra ngoài thuê nhà trọ ở vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị đề nghị ly hôn anh P.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 24/9/1992 và Trần Văn H, sinh ngày 17/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành nên chị không có đề nghị gì.

- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

* Đối với bị đơn là anh Trần Văn P trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Đ lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 16/12/1991 tại UBND xã N, S, Hà Nội. Sau khi kết hôn chị Đ về sống cùng gia đình anh tại thôn X, N, S, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị Đ tự bỏ nhà đi. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 24/9/1992 và Trần Văn H, sinh ngày 17/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành nên anh không có đề nghị gì.

- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ, cho chị Đ được ly hôn anh P; Về con chung: Hai con chung là Trần Thị T, sinh ngày 24/9/1992 và Trần Văn H, sinh ngày 17/8/1995 đã thành niên không đặt ra xem xét giải quyết; về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn là anh Trần Văn P có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn X, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của Nguyên đơn và Bị đơn tại phiên tòa: Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã tống đạt hợp lệ các quyết định cho anh P và chị Đ nhưng do anh P vắng mặt suốt trong cả quá trình tố tụng và cả hai đều có đơn xin xét vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xử vắng mặt các bên đương sự.

[2] Về nội dung: Chị Ngô Thị Đ và anh Trần Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S, thành phố Hà Nội ngày 16/12/1991. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng chị Đ, anh P chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn tới cãi nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không thành. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 không quan tâm, chăm sóc gì nhau. Chị Đ, anh P đều xác định không còn tình cảm vợ chồng và đề nghị ly hôn chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Đ và anh P có 02 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 24/9/1992 và Trần Văn H, sinh ngày 17/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành, khỏe mạnh hai bên thống nhất không đề nghị gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Chị Đ, anh P đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Đ. Cho chị Ngô Thị Đ được ly hôn anh Trần Văn P.
  2. Về con chung: Chị Đ và anh P có 02 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 24/9/1992 và Trần Văn H, sinh ngày 17/8/1995. Hiện các con đã trưởng thành, khỏe mạnh hai bên thống nhất không đề nghị gì nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Hai bên không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đ phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo biên lai số 0072764 ngày 01/11/2024.

Chị Đ, anh P có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger