TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22/01/2025
V/v: “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Hiền.
2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 466/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2024 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Anh Hồ Văn B, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2024, bản tự khai ngày 06/01/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 14/01/2025, nguyên đơn chị Đặng Thị T1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn B cưới nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 12/4/2004, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc bình thường, đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống luôn bất hòa gây gỗ, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, không hòa giải hàn gắn được. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Hồ Văn B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh B có 02 con chung là cháu Hồ Thanh T2, sinh ngày 16/7/2007 và cháu Hồ Thanh L, sinh ngày 05/02/2015. Hiện nay cháu T2 và cháu L đang sống với anh B. Nay ly hôn, chị đồng ý để 02 con chung cho anh B tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại bản tự khai đề ngày 06/01/2025, đơn xin vắng mặt đề ngày 06/01/2025, bị đơn anh Hồ Văn B trình bày:
Về hôn nhân: Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị T1.
Về con chung: có 02 con chung là cháu Hồ Thanh T2, sinh ngày 16/7/2007 và cháu Hồ Thanh L, sinh ngày 05/02/2015. Hiện nay cháu T2 và cháu L đang sống với anh. Khi ly hôn, anh xin tiếp tục nuôi 02 con chung, anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn, bị đơn đều thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T với anh Hồ Văn B. Về con chung: Để 02 con chung là cháu Hồ Thanh T2, sinh ngày 16/7/2007 và cháu Hồ Thanh L, sinh ngày 05/02/2015 cho anh B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Đặng Thị T và anh Hồ Văn B vắng mặt nhưng đều đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B và chị T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị T và anh Hồ Văn B là tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V nên hôn nhân của chị T và anh B là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị T và anh B sống hạnh phúc bình thường nhưng đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh B. Trong suốt quá trình tố tụng và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị T và anh B đều xác định tình cảm vợ chồng không còn với nhau và thống nhất ly hôn. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh B là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh B là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: trong thời gian chung sống với nhau, chị T và anh B có 02 con chung là cháu Hồ Thanh T2, sinh ngày 16/7/2007 và cháu Hồ Thanh L, sinh ngày 05/02/2015. Hiện 02 con chung đã sống với anh B, anh B xin tiếp tục nuôi 02 con và chị T cũng đồng ý để 02 con chung cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu T2 và L là đều có nguyện vọng xin được tiếp tục sống chung với cha là anh B. Do đó, xét yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con của anh B là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh B tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung: Không có.
[5] Về nợ chung: Không có.
[6] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), chị Đặng Thị T có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thi T1 đối với anh Hồ Văn B.
2. Về con chung: anh Hồ Văn B có quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Hồ Thanh T2, sinh ngày 16/7/2007 và cháu Hồ Thanh L, sinh ngày 05/02/2015. Ghi nhận sự tự nguyện của anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Chị T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), chị Đặng Thị T có nghĩa vụ phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007108 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Án phí, chị T đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Mộng Tuyền |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
