Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18- 02 - 2025

“V/v ly hôn, nuôi con chung giữa

chị O và anh C"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Ngọc Tuý;

2.Ông Đặng Ngọc Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 254/2024/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1987

Nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã A, huyện P, tỉnh Thái Bình.

Nơi ở: phường V, quận N, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Thôn X, xã A, huyện P, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt chị O, vắng mặt anh C)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn C tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A vào ngày 09/8/2012. Quá trình chung sống đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, C không có trách nhiệm với gia đình vợ con. Mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 10/2023 thì vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn, chị xin ly hôn anh C.

Về con chung: Chị và anh Lê Văn C có 02 con chung là Lê Huyền T sinh ngày 27/01/2013 và Lê Huyền T1 sinh ngày 13/11/2021, hiện cả 02 con đang ở với chị. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con. Hiện tại, chị không có thai nghén gì.

Hiện tại, chị là giảng viên thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng, ngoài ra chị còn làm thêm giờ thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Lê Văn C vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Kết quả xác minh với gia đình anh Lê Văn C và cơ sở Thôn X, xã A thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Lê Văn C là vợ chồng. Quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì gia đình và cơ sở thôn không nắm rõ. Nay chị O có đơn xin ly hôn anh C gia đình và cơ sở thôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Lê Văn C có 02 con chung là Lê Huyền T sinh ngày 27/01/2013 và Lê Huyền T1 sinh ngày 13/11/2021, hiện cả 02 con đang ở với chị O. Ly hôn, về giao con chung cho ai nuôi và cấp dưỡng cho con đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản: Gia đình và cơ sở thôn không nắm rõ.

Anh Lê Văn C là kỹ sư cầu đường, thường xuyên công tác xa nhà, còn chị Nguyễn Thị Kim O là giảng viên Đại học, mức thu nhập của họ thì gia đình và cơ sở thôn không biết rõ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng nên Viện kiểm sát không đưa ra quan điểm chấp hành pháp luật của bị đơn tại phiên tòa.

3

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Lê Văn C; Về nuôi con chung: Xử giao cả 02 con chung là Lê Huyền T sinh ngày 27/01/2013 và Lê Huyền T1 sinh ngày 13/11/2021 cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con, anh C có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con chung; Về tài sản: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị O phải chịu cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim O khởi kiện ly hôn và nuôi con chung với anh Lê Văn C. Do anh C là bị đơn cư trú Thôn X, xã A, huyện P nên Tòa án nhân dân huyện P, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh C đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Lê Văn C là vợ chồng, được Uỷ ban nhân dân xã A cấp giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 09/8/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến đầu năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 10/2023, thì vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị O xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn, chị xin ly hôn anh C. Tòa án đã ấn định thời gian hòa giải nhưng anh C không có mặt, anh C không có thiện chí hòa giải. Mặt khác thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị O và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của chị chị thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, vì vậy cần xử cho chị O được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Lê Văn C có 02 con chung Lê Huyền T sinh ngày 27/01/2013 và Lê Huyền T1 sinh ngày 13/11/2021, hiện đang ở với chị O. Ly hôn, O có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con, còn anh C không có ý kiến, quan điểm trình bày. Xét nguyện vọng nuôi con của chị O là chính đáng, các con chung đều giới tính nữ đang ở độ tuổi cần được sự quan tâm chăm sóc của mẹ, cháu T có nguyện vọng ở với mẹ, chị O có đủ điều kiện để nuôi con, do

4

đó cần giao cả 02 con chung cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con là đáp ứng được nguyện vọng của đương sự, của con chung và phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình.

[4] Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Kim O không yêu cầu Toà án giải quyết, anh Lê Văn C không có quan điểm trình bày nên về tài sản Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Lê Văn C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Lê Văn C.

2.Về nuôi con chung: Xử giao cả 02 con chung là Lê Huyền T sinh ngày 27/01/2013 và Lê Huyền T1 sinh ngày 13/11/2021 cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con. Anh C có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị O, anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3.Về tài sản: Hội đồng xét xử không giải quyết.

4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng chị O đã nộp theo biên lai thu số 0004958 ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thành tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim O có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lê Văn C vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn

5

15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục thi hành án dân sự h.Quỳnh Phụ;
  • - Nơi ĐKKH: UBND xã A;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị Nguyễn Thj Kim O và anh Lê Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger