|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 6 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Văn Tuyển và ông Vũ Văn Tu
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Hồng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Phạm Minh Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Huyền T sinh năm 1997; nơi đăng ký cư trú: xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; địa chỉ liên lạc: số nhà A, ngõ C L, xóm A V, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: anh Phạm Lương C sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh: số nhà E ngõ B, đường T, phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (đã xuất cảnh ra nước ngoài không rõ địa chỉ).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Trần Thị Huyền T: ông Trần Văn S và ông Trương Khắc D - Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Công ty L số 292 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa, chị Trần Thị Huyền T, anh Phạm Lương C, ông Trần Văn S và ông Trương Khắc D vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 01 năm 2024, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 22 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Lương C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình ngày 25/8/2015. Trước khi kết hôn, anh chị được tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình anh C tại phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách, thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi vã và ghen tuông vô cớ.
Đến giữa năm 2019, anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau khi anh C đi có liên lạc thông qua mạng xã hội Facebook được khoảng 1 tháng. Từ đó đến nay, anh C không liên lạc hay gọi điện gì nữa, vợ chồng không gặp mặt nhau lần nào. Vợ chồng anh chị hiện nay mỗi người sống một nơi, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Anh C cố tình giấu địa chỉ và không cho ai biết địa chỉ tại Đài Loan. Sau khi anh C đi một thời gian, chị T đã đưa con về sống cùng với bố mẹ đẻ của chị ở xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Định.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn muốn chung sống với nhau nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Lương C.
- Về con chung: chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Lương C có hai con chung là Phạm Lương M sinh ngày 09/11/2013 và Phạm Lương Q sinh ngày 03/8/2018. Hiện nay, hai cháu đang ở với chị T tại xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Định. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các cháu trưởng thành và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T có đủ điều kiện kinh tế, chỗ ở và thời gian để chăm sóc tốt nhất cho các con từ vật chất đến tinh thần.
- Về tài sản: chị Trần Thị Huyền T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Phạm Lương C: Tòa án đã có văn bản đề nghị xác minh tại Cục Q1 Bộ C1, kết quả anh C đã xuất cảnh ngày 01/01/2020, chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi cho thân nhân của anh C và niêm yết công khai: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đến phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa và đã thông báo trên kênh VOV5 Đ; trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cho đến khi xét xử Tòa án không nhận được văn bản ghi ý kiến, lời khai của anh C đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Anh C không tham gia tố tụng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Biên bản làm việc ngày 29/7/2024 Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cung cấp: anh Phạm Lương C đăng ký cư trú tại phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Chị Trần Thị Huyền T không đăng ký cư trú tại thị trấn Y mà đăng ký cư trú tại xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Anh C và chị T đăng ký kết hôn ngày 25/8/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại nhà mẹ đẻ của anh C tại phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Đến khoảng tháng 01 năm 2020 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do anh C không cung cấp nên Ủy ban thị trấn không biết địa chỉ cụ thể hiện nay của anh C. Sau khi anh C đi nước ngoài một thời gian, chị T đã đưa con thứ hai của anh chị về nhà bố mẹ đẻ của chị T tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định sinh sống cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng anh C, chị T sinh sống tại thị trấn, chính quyền địa phương không nhận được thông tin phản ảnh về mâu thuẫn vợ chồng và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cũng như tranh chấp. Anh C và chị T có hai con chung là cháu Phạm Lương M sinh ngày 09/11/2013 và cháu Phạm Lương Q sinh ngày 03/8/2018. Hiện nay, cháu Phạm Lương M đang ở với bà nội là bà Trần Thị D1 tại phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và cháu Phạm Lương Q hiện đang ở cùng với chị T tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Về điều kiện về sức khỏe anh C và chị T đều đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Còn về điều kiện kinh tế và chỗ ở để nuôi dậy con chưa thành niên của anh C và chị T thì Ủy ban nhân dân thị trấn không nắm được.
Tại Biên bản xác minh ngày 29/7/2024 bà Trần Thị D1 là mẹ đẻ của anh Phạm Lương C cung cấp: anh C và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống với bà tại khu phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Năm 2020 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến khoảng năm 2022 chị T cùng cháu Phạm Lương Q về nhà bố mẹ đẻ của chị T sinh sống, còn để cháu Phạm Lương M cho bà nuôi dưỡng, chăm sóc. Kể từ khi anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan cho đến nay vẫn chưa về. Thỉnh thoảng anh C có điện về cho bà, nhưng bà không biết được địa chỉ cụ thể của anh C vì anh C thường xuyên thay đổi chỗ ở và công việc nên không có địa chỉ cố định do vậy bà không cung cấp được địa chỉ của anh C cho Tòa án. Quá trình chung sống, vợ chồng anh C, chị T không có mâu thuẫn gì, anh C là người rất yêu thương vợ nên không biết vì lý do gì mà chị T làm đơn xin ly hôn anh C. Nay chị T xin ly hôn anh C, đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 29/7/2024 cháu Phạm Lương M là con đẻ của chị T và anh C trình bày: hiện nay, cháu đang ở với bà nội tại khu phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Mẹ và em Phạm Lương Q thì đang ở với ông bà ngoại tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nguyện vọng của cháu là được ở cùng với bố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28 và các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 469, 470, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Huyền T.
- + Giải quyết cho chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Lương Công ly H.
- + Về con chung: giao cháu Phạm Lương M sinh ngày 09/11/2013 và cháu Phạm Lương Q sinh ngày 03/8/2018 cho chị Trần Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Phạm Lương C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
- - Về án phí sơ thẩm: chị Trần Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T đang cư trú tại tỉnh Nam Định. Bị đơn anh Phạm Lương C đã xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không biết địa chỉ; nơi cư trú cuối cùng của anh C tại số nhà E ngõ B, đường T, phố K; thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự, đơn khởi kiện của chị Trần Thị Huyền T thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi cho thân nhân của anh C và niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo trên kênh VOV5 Đài tiếng nói Việt Nam và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng anh C vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đối với chị Trần Thị Huyền T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, chị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Trần Thị Huyền T là ông Trần Văn S và ông Trương Khắc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T, bị đơn anh Phạm Lương C và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T là ông Trần Văn S, ông Trương Khắc D.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
trước khi kết hôn, chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Lương C được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do đó quan hệ hôn nhân của chị T và anh C là hợp pháp, được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ.
Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh C chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không thể khắc phục được. Từ năm 2020 cho đến nay anh, chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đã vi phạm quyền, nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, giải quyết cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung:
chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Lương C có hai con chung là cháu Phạm Lương M sinh ngày 09/11/2013 và cháu Phạm Lương Q sinh ngày 03/8/2018. Hiện nay, cháu Phạm Lương M sinh sống cùng bà nội tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, còn cháu Phạm Lương Q đang sinh sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung.
Xét thấy, anh C đã xuất cảnh ra nước ngoài, không biết anh C đang làm gì, ở đâu và khi nào thì trở về Việt Nam. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh C không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của chị T. Chị T có đầy đủ các điều kiện trong việc nuôi dạy con chưa thành niên. Do đó giao cháu Phạm Lương M và cháu Phạm Lương Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn nhưng chị Trần Thị Huyền T vẫn giữ nguyên quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó trong vụ án này, Tòa án không giải quyết, quyết định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh Phạm Lương C.
[2.3] Về tài sản:
các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm:
chị Trần Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án; được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị T đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo:
các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 40, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 464, Điều 469, Điều 470, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huyền T cụ thể như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: giải quyết cho chị Trần Thị Huyền T ly hôn với anh Phạm Lương C.
1.2. Về việc nuôi con sau khi ly hôn: giao cháu Phạm Lương M sinh ngày 09/11/2013 và cháu Phạm Lương Q sinh ngày 03/8/2018 cho chị Trần Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
(Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.)
2. Về án phí sơ thẩm: chị Trần Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000034 ngày 22/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn anh Phạm Lương C được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tử Lượng |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn trong vụ án đang ở nước ngoài và không biết địa chỉ
