Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-6-2025

“V/v Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thạch

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm

Ông Nguyễn Văn Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 04 năm 2025 về việc "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HPT ngày 04-6-2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trương Công H, sinh ngày: 10/12/1973; Thẻ căn cước công dân số: [...], cấp ngày 17/08/2021.

Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phương Hưng T, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Chị Đào Thị T1, sinh ngày: 04-6-1973; Thẻ căn cước công dân số [...].

Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phương Hưng T, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Trương Công H trình bày như sau:

- Về tình cảm: Anh và chị Đào Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/1993 tại UBND thị trấn K, huyện K (nay phường H, thị xã K), tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng thời gian 25 năm thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Đến cuối năm 2023 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không liên lạc, không quan tâm gì đến nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cải vã. Anh Trương Công H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị Đào Thị T1.

- Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 04 con chung là Trương Thị Mai P, sinh ngày: 23-9-1994, Trương Công Đ, sinh ngày: 17-4-1997, Trương Công Đ1, sinh ngày: 15-5-2004 và Trương Ninh G, sinh ngày: 28-02-2006. Hiện nay, các con chung đều trên 18 tuổi, không mất năng lực hành vi dân sự, không mất khả năng lao động nên anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung: Anh Trương Công H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phần trình bày của bị đơn chị Đào Thị Thu

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Đào Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thủ tục tố tụng theo luật định, nhưng vắng mặt không có lý do trong các buổi làm việc như lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị Đào Thị T1. Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn anh Trương Công H cung cấp số điện thoại, địa chỉ nơi cư trú, tạm trú của bị đơn chị Đào Thị T1 và đã liên hệ với chị T1 theo số điện thoại 0964.880.xxx do nguyên đơn cung cấp và lập Biên bản làm việc qua điện thoại ngày 07-05-2025, ngày 13-05-2025 có sự chứng kiến của kiểm sát viên tham gia giải quyết vụ án: Chị Đào Thị T1 xác nhận có đăng ký kết hôn với anh Trương Công H tại UBND phường H, thị xã K và thừa nhận vợ chồng ly thân đã lâu, không quan tâm gì đến nhau. Chị cho biết, do chị đang đi điều trị bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh nên chị không về để giải quyết vụ án được. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với anh Trương Công H và xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, các phiên tòa xét xử đối với vụ án. Tòa án yêu cầu chị T1 cung cấp địa chỉ cụ thể hiện nay chị đang ở tại Thành phố Hồ Chí Minh để tống đạt các văn bản, tài liệu liên quan đến vụ án nhưng chị T1 không cung cấp, cũng như không viết văn bản trình bày ý kiến, đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt gửi về cho Tòa án.

Kết quả xác minh lập ngày 22-04-2025 tại Công an phường H, thị xã K, xác nhận: Chị Đào Thị T1 có đăng ký nơi cư trú, thường trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, chị T1 chưa cắt khẩu, không đăng ký tạm trú ở nơi khác. Tại thời điểm xác minh, chị T1 không có mặt tại địa phương mà chị đang đi làm ăn ở Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng có về thăm gia đình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo các quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh TRương Công H được ly hôn với chị Đào Thị T1; Về con chung: con chung đã trên 18 tuổi, không mất khả năng nhận thức, không mất khả năng lao động nên đề nghị miễn xét; Về tài sản, nợ chung: không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Anh Trương Công H có đơn khởi kiện xin ly hôn với chị Đào Thị T1. Chị Đào Thị T1 có đăng ký nơi cư trú và chỗ ở hiện nay tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn anh Trương Công H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Đào Thị T1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc kiểm tra, giao nộp tài liệu, chứng cứ tại Tòa án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Chị Đào Thị T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết nội dung vụ án theo luật định.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh Trương Công H và chị Đào Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/1993, tại UBND thị trấn K, huyện K (nay là UBND phường H, thị xã K), tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 25 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải vã. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, không quan tâm đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng, có thái độ bỏ mặc, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm để duy trì, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Trương Công H và chị Đào Thị T1 không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng và nếu tiếp tục kéo dài cuộc sống thì mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho anh Trương Công H được ly hôn với chị Đào Thị T1.

[3.2]. Về con chung: Quá trình hôn nhân, vợ chồng có 04 người con chung: cháu Trương Thị Mai P, sinh ngày: 23-9-1994; cháu Trương Công Đ, sinh ngày: 17-4-1997; cháu Trương Công Đ1, sinh ngày: 15-5-2004; cháu Trương Ninh G, sinh ngày: 28-02-2006. Hiện nay, các con chung đều trên 18 tuổi, không mất năng lực hành vi dân sự, không mất khả năng lao động, anh Trương Công H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4]. Bị đơn đã đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, biết được việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án đang giải quyết ly hôn nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết các yêu cầu khác (nếu có) của bị đơn.

[5]. Về án phí: Anh Trương Công H là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Trương Công H, cho anh Trương Công H được ly hôn với chị Đào Thị T1.

2. Về án phí: Anh Trương Công H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...], thanh toán trực tuyến tạm ứng án phí 7TO4GP3BFH ngày 02-04-2025 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008487 ngày 07-05-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Ngọc Thạch

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger