Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-02-2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Hồng Cẩm và Ông Mai Văn Tài.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân- Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:

Ông Chau Pho Ly - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 359/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐSXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐSXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 2001;

    Nơi cư trú: Tổ B, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1998;

    Nơi cư trú: Đường L, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Trần Thanh P do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 20/03/2021. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng mẫu thuẫn ngày càng nhiều do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông P không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau. Bà T và ông P không còn sống cùng nhau từ tháng 11/2021 đến nay, vào năm 2022 bà T có nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, sau đó rút đơn kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng từ thời gian đó đến nay ông P không có thiện chí đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh P.

- Về con chung: Bà T và ông P có 02 (hai) con chung tên Trần Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 24/11/2020 và Trần Minh K, sinh ngày 19/10/2021. Hiện 02 (hai) con chung do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi dưỡng 02 (hai) con chung.

- Về cấp dưỡng: Yêu cầu ông P cấp dưỡng 2.000.000 đ (hai triệu đồng)/tháng cho 02 con chung đến khi cháu A và cháu K đủ 18 tuổi, trưởng thành khỏe mạnh.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Thanh P vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không cung cấp ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án, nhưng bị đơn vắng mặt vì vậy các đương sự không hòa giải được với nhau. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa,

Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiên về ly hôn, về con chung, về tài sản chung và nợ chung, riêng về cấp dưỡng, bà T thay đổi yêu cầu Tòa án buộc ông P cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung theo quy định của pháp luật; Ông P vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án;

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà T và ông P tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 20/03/2021, nên ông P, bà T là vợ chồng hợp pháp, trong quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được nên bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông P là có cơ sở theo quy định tại tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà T và ông P có 02 (hai) con chung tên Trần Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 24/11/2020 và Trần Minh K, sinh ngày 19/10/2021. Hiện 02 (hai) con chung do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi dưỡng 02 (hai) con chung. Để đảm bảo sự ổn định về tinh thần và quyền lợi về mọi mặt cho con chung đề nghị giao 02 (hai) con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: Do ông P là người không trực tiếp nuôi con và bà T có yêu cầu ông P cấp dưỡng cho 02 (hai) con chung là cháu Trần Nguyễn Ngọc A và cháu Trần Minh K theo quy định pháp luật, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Căn cứ theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình và Theo Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu của người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu của huyện T thuộc vùng IV là 3.450.000 đồng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông P cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng là 3.450.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc tài sản tự nuôi sống bản thân.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu Tòa án giải quyết việc tranh chấp về hôn nhân gia đình với ông P. Ông P có nơi cư trú tại thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. Nên, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, ông P vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông P.

[2] Về hôn nhân: Bà T và ông P do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 20/03/2021 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và G. Bà T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông P không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau. Bà T và ông P không còn sống cùng nhau từ tháng 11/2021 đến nay, vào năm 2022 bà T có nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, sau đó rút đơn kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng từ thời gian đó đến nay ông P không có thiện chí đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh P.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P vắng mặt không lý do, theo Biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương trả kết quả thể hiện: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1998, có đăng ký thường trú tại khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. Do bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, đồng thời không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông P đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong mối quan hệ vợ chồng, thì cả hai phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, để cùng vun đắp hạnh phúc. Tuy nhiên gia đình ông P, bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn không có giải pháp hòa giải, hàn gắn tình cảm. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông P tham gia hòa giải và xét xử đến lần thứ hai nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện ông P không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Bà T trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay mà không thể đoàn tụ, nên bà T cương quyết ly hôn ông P. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà T và ông P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn ông P.

[3] Về con chung: Bà T và ông P có 02 (hai) con chung tên Trần Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 24/11/2020 và Trân Minh K, sinh ngày 19/10/2021. Hiện 02 (hai) con chung do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi dưỡng 02 (hai) con chung. Do ông P không có tranh chấp nuôi con chung, các con chung hiện chưa thành niên, xét về điều kiện, bà T đang là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, để đảm bảo cho cuộc sống ổn định của các con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung sau khi ly hôn.

Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn khởi kiện, bà T có yêu cầu ông P cấp dưỡng cho 02 (hai) con chung mức 2.000.000 đồng/tháng, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án, không ghi nhận được ý kiến của ông P về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, tại đơn khởi kiện bà T chỉ yêu cầu mức cấp dưỡng cho 02 con chung 2.000.000 đồng/tháng, tại phiên tòa bà T thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng, yêu cầu Tòa án buộc ông P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình “...mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”, do ông P có nơi cư trú tại huyện T nên theo Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu của người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu của huyện T thuộc vùng IV là 3.450.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng/tháng, cho nên mức cấp dưỡng của ông P phải cấp dưỡng cho mỗi con chung là một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi ông P cư trú là 1.725.000 đồng x 02 con chung = 3.450.000 đồng/tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Trần Nguyễn Ngọc A và cháu Trần Minh K đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc tài sản tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ông Trần Thanh P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280; khoản 1 Điều 317, Điều 322 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 51; Điều 56; Điều 15, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84, Điều 107; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình;
  • Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T.

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn ông Trần Thanh P.
  2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Trần Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 24/11/2020 và Trần Minh K, sinh ngày 19/10/2021 cho bà Nguyễn Thị Cẩm T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Bà T và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông P được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

  3. Về cấp dưỡng: Buộc ông Trần Thanh P phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung tên Trần Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 24/11/2020 và Trần Minh K, sinh ngày 19/10/2021 mỗi tháng là 3.450.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Trần Nguyễn Ngọc A và cháu Trần Minh K K đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc tài sản tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí:

    Bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012785, ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà T đã nộp xong án phí.

    Ông Trần Thanh P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger