Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-3-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tiên và ông Phạm Xuân Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 379/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Ngọc L, sinh năm: 1983; Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Lê T, sinh năm: 1985; Vắng mặt

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc L trình bày: Bà và chồng là ông Lê Trung N tìm hiểu tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2013 tại UBND xã X, huyện N nhưng không tổ chức cưới hỏi.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại nhà riêng của bà tại thôn T, xã X, huyện N. Quá trình chung sống vợ chồng có hạnh phúc thời gian đầu chung sống, đôi khi xảy ra cãi vã do chồng nhậu nhẹt nhưng bà đều bỏ qua. Đến năm 2018 thì mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu trầm trọng do ông T nhậu nhẹt nhiều hơn và đánh bà, khoảng 08 tháng nay do chồng bà không tin tưởng nghi ngờ bà ngoại tình dù bà không làm có lỗi với chồng con nên dù còn chung sống với nhau, nhưng không ai quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai người đó tự lo. Gia đình hai bên đều biết về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng và có khuyên nhủ, bà cũng cho chồng cơ hội nhưng ông T không thay đổi, vẫn nhậu nhẹt say xỉn và đánh bà trước mặt các con, không phụ giúp bà chăm sóc gia đình, kinh tế gia đình do bà tự làm tự lo. Hiện nay, bà không còn tình cảm với chồng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có sự tin tưởng nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê T.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Lê Đinh Ngọc P, sinh ngày 23/02/2016 và Lê Đinh Ngọc T1, sinh ngày 30/12/2020. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con chung. Hiện nay bà có mở quán tạp hoá nhỏ buôn bán tại nhà ở thôn T, xã X, huyện N thu nhập khoảng 6.000.000đồng/tháng. Ngoài ra thì bà cũng có làm ruộng thu nhập theo mùa (một mùa là 04 tháng) thu nhập khoảng 10.000.000đồng/mùa.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Lê T không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và không gửi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn chưa chấp hành pháp luật do vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà lần thứ nhất dù được triệu tập hợp lệ.

Về nội dung: Mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Đinh Thị Ngọc L và ông Lê T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hòa giải được với nhau về tình cảm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L và giao các con chung chưa thành niên cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Đinh Thị Ngọc L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Đinh Thị Ngọc L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê T, yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, bị đơn có nơi cư trú ở huyện N. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Tổng đạt văn bản tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Lê T. Về tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ các đương sự không có ý kiến gì. Ngày 04/3/2025, Tòa án mở phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa là ngày 19/3/2025. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù ông Lê T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Ngọc L và ông Lê T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 20/02/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, ông T không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc không tin tưởng nhau mạnh ai người đó tự lo từ 08 tháng nay, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Hiện nay, bà L xác định không còn tình cảm với chồng nên yêu cầu ly hôn với ông T. Phía ông T tuy được Toà án thông báo về yêu cầu khởi kiện của bà L nhưng không có ý kiến gì, không tham gia hoà giải cho thấy ông T cũng không có thiện chí để níu kéo tình cảm vợ chồng. Chính quyền địa phương nơi bà L, ông T đăng ký thường trú (Ban Q) xác nhận vợ chồng ông T - bà L chung sống có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau.

Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L được ly hôn với ông T.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng bà L – ông T có 02 con chung là Lê Đinh Ngọc P, sinh ngày 23/02/2016 và Lê Đinh Ngọc T1, sinh ngày 30/12/2020. Bà L có yêu cầu được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; cháu P có nguyện vọng được ở với mẹ còn cháu T1 mới được hơn 04 tuổi. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển bình thường cho con chung, Hội đồng xét xử giao các con chung cho bà L có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc L đối với bị đơn ông Lê T.

  1. Về hôn nhân: Bà Đinh Thị Ngọc L được ly hôn với ông Lê T.
  2. Về con chung: Bà Đinh Thị Ngọc L có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Đinh Ngọc P, sinh ngày 23/02/2016 và Lê Đinh Ngọc T1, sinh ngày 30/12/2020.

Ông Lê T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Đinh Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003934 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Bà Đinh Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025), bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án/.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Hải;
  • - UBND xã, thị trấn nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger