TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số:11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15 tháng 4 năm 2025
V/v "Tranh chấp ly hôn, con chung".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh H
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Giang
Ông Phạm Hoàng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Tô Thị Tường V, sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam
Bị đơn: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1995
Địa chỉ: Khu B, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ
(chị V và anh Q đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Tô Thị Tường V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn Q yêu thương nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn tự nguyện ngày 18/6/2020 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến ngày 15/11/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hòa hợp được, lý do mâu thuẫn là do anh Q có hành vi bạo lực đối với chị. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung nên chị xin ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Chị V xác nhận vợ chồng có xác nhận có 01 con chung là cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020.
Khi ly hôn chị V đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động, tại phiên tòa chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung
- Về tài sản: Chị V xác nhận hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị V xác nhận các bên đã tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công sức đóng góp: Chị V xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn là anh Lê Văn Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận lời trình bày của chị V về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống hạnh phúc như chị V trình bày là đúng, anh xác nhận hai vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay chị V xin ly hôn anh đồng ý.
- Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020. Khi ly hôn anh Q đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án anh Q có yêu cầu giải quyết về tài sản chung là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, biển kiểm soát 43A-416.36. Đến nay, anh Q xác nhận hai bên đã tự thỏa thuận được và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Q đã rút yêu cầu về việc chia tài sản chung.
- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Q có yêu cầu giải quyết về nợ chung. Đến nay các bên đã tự thỏa thuận được và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Q đã rút yêu cầu về việc giải quyết nợ chung.
- Về công sức đóng góp: Anh Q xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí thẩm định và định giá hết 5.000.000 đồng, anh Q đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng.
Việc thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện:
Biên bản xác minh đối với việc sinh sống và học tập của cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020 hiện nay: Cháu B đang sinh sống cùng anh Lê Văn Q ở nhà ông bà nội là ông Lê Văn C và bà Đặng Thị H1 ở Khu B xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ từ tháng 3/2024 đến nay. Cháu B đang học tại trường mầm non L, cháu
B phát triển tâm sinh lý bình thường như những bạn học cùng tuổi khác. Việc đưa đón con đi học, đóng tiền học phí, tiền ăn và mọi chi phí tại trường mầm non L là do anh Q đóng, thỉnh thoảng ông bà nội cháu B đưa cháu đi học. Nếu sau khi ly hôn, anh Q được quyền nuôi dưỡng cháu B thì ông C và bà H1 đồng ý để cho anh Q và cháu B ở cùng ông bà lâu dài và ông bà sẽ hỗ trợ anh Q trong việc trông nom, chăm sóc cháu B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Tô Thị Tưởng V1 và anh Lê Văn Q
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020 cho anh Lê Văn Q trực tiếp trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Chị V1 không phải cấp đưỡng nuôi con chung cùng anh Q do anh Q tự nguyện không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Chị V1 và anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra.
- Về nợ chung: Chị V1 và anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra.
- Về công sức đóng góp: Chị V1 và anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra.
- Về án phí HNGĐ: chị V1 và anh Q mỗi người phải chịu 75.000 đồng tiền án phí sơ thẩm do thuận tình ly hôn.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá là 5.000.000 đồng. Vì anh Q rút yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung nên anh Q có nghĩa vụ chịu 5.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá, xác nhận anh Q đã nộp đủ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại khu B, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng chuyển vụ án hôn nhân và gia đình cho Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc tham gia tố tụng của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị V1, anh Q, anh T1, chị H2, ông C và ông Đ xác nhận vợ chồng Quốc V2 nợ ông T Đến số tiền là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng); nợ anh Tô Hồng T1 số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng); ông Lê Văn C số tiền là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng); nợ chị Lê Thị H2 số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung của vợ chồng anh Q chị V2 nên Tòa án đưa ông Tô Đ, anh Tô Hồng T1, ông Lê Văn C, chị Lê Thị H2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Tuy nhiên, vợ chồng anh Q chị V2, ông Tô Đ, anh Tô Hồng T1, ông Lê Văn C, chị Lê Thị H2 đã thỏa thuận tự giải quyết về toàn bộ số nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Q đã rút yêu cầu về việc giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu về việc giải quyết tài sản chung và nợ chung nên xác định ông Tô Đ, anh Tô Hồng T1, ông Lê Văn C, chị Lê Thị H2 không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Tô thị Tường V và anh Lê Văn Q kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/6/2020 tại UBND xã xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến ngày 15/11/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hòa hợp được, lý do mâu thuẫn là do anh Q có hành vi bạo lực đối với chị. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung nên chị xin ly hôn với anh Q. Anh Q xác nhận lời trình bày của chị V về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống hạnh phúc như chị V trình bày là đúng, anh xác nhận hai vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay chị V xin ly hôn anh đồng ý. Xét thấy, cuộc hôn nhân của chị V và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị V và anh C1 đều nhất trí thuận tình ly hôn, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị V và anh Q là phù hợp.
[2.2] Về con chung:
Chị Tô Thị Tường V và anh Lê Văn Q đều thống nhất xác nhận có một con chung là cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020, hiện nay cháu B đang ở cùng anh Q và ông bà nội. Khi ly hôn chị V và anh Q đều có nguyện vọng được nuôi con chung,; nếu được quyền nuôi con anh Q, chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là nguyện vọng chính đáng của cả chị V và anh Q. Xét về điều kiện để trực tiếp nuôi con: chị V và anh Q đều có thu nhập. Khi ly hôn anh Q có chỗ ở là ở cùng bố mẹ của anh Q tại khu B xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ; còn chị V ở nhà thuê theo hợp đồng thuê nhà
tại Đà Nẵng. Cháu B đang sống cùng Q và đang học tại trường L, P, Phú Thọ; hiện nay cháu B đang phát triển bình thường về tâm sinh lý. Vì vậy để đảm bải quyền lợi về mọi mặt của con chung, không làm đảo lộn sinh hoạt và học tập hàng ngày của cháu Lê Tô Hoàng B cần giao cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020; chị V3 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q do anh Q tự nguyện không yêu cầu là phù hợp.
[4]. Về tài sản chung: Chị V và anh Q thống nhất xác nhận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung và công sức đóng góp: Chị V và anh Q thống nhất xác nhận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản anh Q rút yêu cầu nên anh Q phải chịu 5.000.000 đồng.
[3]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị V và anh Q mỗi người phải chịu ½ án phí thuận tình ly hôn là 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng).
Xét đề nghị nêu trên của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Tường V
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Tô Thị Tường V và anh Lê Văn Q.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Tô Hoàng B, sinh ngày 27/8/2020 cho anh Lê Văn Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chị V3 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q do anh Q tự nguyện không yêu cầu.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Q về việc giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
- Về công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về số tiền chi phí phí tố tụng: anh Q phải chịu 5.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Xác nhận anh Q đã nộp 5.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị V và anh Q mỗi người phải chịu phải chịu 75.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm . Xác nhận chị V đã đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002861 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Trả lại cho chị V 225.000 đồng.
Xác nhận anh Q đã đã nộp 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002861 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Trả lại cho anh Q 2.425.000 đồng.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý Thị Thanh Huyền |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tô Thị Tường V xin ly hôn anh Lê Văn Q
