Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14-4-2025

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Nhàn
  2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Vương Khả Nhật Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 361/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025;

+ Nguyên đơn: Chị Vũ Hoàng Thiên T, sinh năm 2000; Địa chỉ: Số nhà D đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị vắng mặt.

+ Bị đơn: Anh Bùi Vũ Trường N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số nhà A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10/9/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn chị Vũ Hoàng Thiên T thể hiện như sau:

    - Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Bùi Vũ T1 N có thời gian quen biết từ năm 2020, đến năm 2022 thì tìm hiểu và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại U, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 20/6/2022.

    Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ chung sống bình thường được khoảng mấy tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N thường áp đặt chị T nhiều việc, nếu không vừa ý thì, đánh, đuổi chị ra khỏi nhà, có lúc cầm dao đe dọa tính mạng chị T. Đến đầu năm 2024 anh N đánh chị T nên gia đình chị T đã đón mẹ con chị T về nhà bố mẹ đẻ ở. Gia đình hai bên cũng nhiều lần khuyên bảo nhưng anh N không thay đổi mà còn nhăn tin đe dọa gia đình chị gái chị T vì đã đứng ra bênh vực chị T.

    Nay do vợ chồng không còn chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N.

    - Về con chung: Chị T và anh N có 01 con chung là Bùi Hoàng Thiên Q, sinh ngày 10/12/2022. Hiện nay cháu Q đang do chị T nuôi dưỡng, chị T đủ điều kiện nuôi con vì vậy chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

    - Về tài sản chung: Chị T trình bày không có tài sản chung.

    - Về nợ chung: Chị T cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai.

    Bị đơn anh Bùi Vũ Trường N không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai nên không có ý kiến trình bày.

    Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.

- Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn Chị T có đơn đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn anh Bùi Vũ Trường N không có mặt mặc dù đã được Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật TTDS.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 53 và khoản 1, 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị T về việc ly hôn với anh Bùi Vũ Trường N, giao con chung là cháu Bùi Hoàng Thiên Q, sinh ngày 10/12/2022 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi trưởng thành; về cấp dưỡng chị T không yêu cầu nên không đề cập đến, về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Bùi Vũ Trường N cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
  2. [2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Hoàng Thiên T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Vũ Trường N vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
  3. [3] Về nội dung:

    [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Hoàng Thiên T và anh Bùi Vũ T1 Nguyên chung sống với nhau từ năm 2022, việc chung sống là tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại U, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 20/6/2022. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

    Chị T cho rằng vợ chồng chỉ có thời gian sống với nhau được mấy tháng thì xảy ra mâu thuẫn do anh N đối xử không tốt và thường áp đặt mọi chuyện cho chị T, có lúc đánh đuổi chị T, gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng không thành. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh N.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh N nhiều lần để tác động, hòa giải nhưng anh N vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, qua xác minh người thân và chính quyền địa phương thì thấy rằng giữa chị T, anh N có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về tình cảm, từ đầu năm 2024 đến nay chị T và anh N không còn chung sống cùng nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, xử cho chị T và anh N được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.

    [3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Qua tài liệu, chứng cứ do chị T xuất trình trong hồ sơ vụ án xác định giữa chị T và anh N có 01 con chung là Bùi Hoàng Thiên Q, sinh ngày 10/12/2022. Từ khi chị T và anh N sống ly thân thì cháu Q do chị T nuôi dưỡng. Nay chị T có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, còn anh N không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay cháu Q dưới 36 tháng tuổi do vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển bình thường của con chung cần áp dụng khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, xử giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên là cần thiết và đúng pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    [3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến.

  4. [4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
  5. [5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Hoàng Thiên T đối với anh Bùi Vũ Trường N.

    Cho chị Vũ Hoàng Thiên T ly hôn với anh Bùi Vũ Trường N.

  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là Bùi Hoàng Thiên Q, sinh ngày 10/12/2022 cho chị Vũ Hoàng Thiên T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

    “Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình”.

  3. Về án phí: Buộc chị Vũ Hoàng Thiên T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng Chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006020 ngày 17/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thanh Nhàn Lê Thị Hòa
Nguyễn Thị Hạnh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Bảo Lộc;
  • - Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc;
  • - UBND Phường 2, thành phố Bảo Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Thị Hòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger