Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

V/v:"ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phú Anh Lân.
  2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Yến Trinh –Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 347/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/11/2024 về việc "ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng N –sinh năm 1986 (có mặt).

-Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T –sinh năm 1983 (xin xét xử vắng mặt).

Cùng trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng N trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003, đến năm 2009 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Quá trình chung sống không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên cải vả, ông T hay say xỉn kiếm chuyện chửi mắng, đánh đập bà. Chính quyền địa phương có hòa giải nhưng không thành. Bà và ông T không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T.

Về con chung: có 04 con chung tên Nguyễn Đức T1–sinh năm 2005; Nguyễn Đức H-sinh năm 2006; Nguyễn Đức H1-sinh năm 2014; Nguyễn Đức C–sinh năm 2015. Hiện cháu T1 và H đã trưởng thành nên bà không có ý kiến gì. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1 và C còn nhỏ. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Ông Nguyễn Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trình bày: Ông và bà Bùi Thị Hồng N chung sống với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn năm 2009. Vợ chồng chung sống không hợp nhau và đang sống ly thân, không còn tình cảm vợ chồng. Nay ông đồng ý ly hôn với bà N. Ông và bà N có chung 04 người con, hiện 02 con tên Nguyễn Đức T1-sinh năm 2005; Nguyễn Đức H-sinh năm 2006 đã trưởng thành. Khi ly hôn ông đồng ý giao 02 con nhỏ tên Nguyễn Đức H1-sinh năm 2014 và Nguyễn Đức C-sinh năm 2015 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Vì bận công việc nên ông xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Bùi Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T. Khi ly hôn nên giao 02 con chung còn nhỏ cho bà Bùi Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Bà Bùi Thị Hồng N phải chịu án phí theo pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nhưng có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Hồng N và ông Nguyễn Ngọc T được kết hợp trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46 ngày 12/5/2009 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà N và ông T đều thừa nhận: vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xảy ra cải vả, đang sống ly thân, không còn tình cảm vợ chồng và đều yêu cầu giải quyết ly hôn.
  3. Xét thấy hôn nhân của vợ chồng bà N và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.
  4. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của bà Bùi Thị Hồng N và ông Nguyễn Ngọc T về việc nuôi con chung. Giao các con chung tên Nguyễn Đức H1 (nam)-sinh ngày 04/4/2014 và Nguyễn Đức C (nam)–sinh ngày 20/5/2015 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
  6. Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
  7. Về án phí: Bà N phải chịu án phí 300.000đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
  3. Về con chung: Bà Bùi Thị Hồng N có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung tên Nguyễn Đức H1 (nam)–sinh ngày 04/4/2014 và Nguyễn Đức C (nam)–sinh ngày 20/5/2015. Ông Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  6. Về án phí: Bà Bùi Thị Hồng N phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004744 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà Bùi Thị Hồng N đã nộp đủ án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện Ninh Phước;
  • -Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • -Các đương sự;
  • -UBND xã Phước Hải-Ninh Phước;
  • -Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger