|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 02 - 2025
V/v: Ly hôn giữa anh Vi và chị Thơm.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh, ông Nguyễn Văn Chấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “ Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QÐST - HNGĐ ngày 17/01/2025 giữa:
Nguyên đơn: Anh Vũ Văn V, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Đ, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Chị Lăng Thị T, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Đ, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 30/10/2024 và trong các lời khai anh Vũ Văn V là nguyên đơn trình bày: Anh kết hôn với chị Lăng Thị T năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L. Anh chị kết hôn là tự nguyện không bị ai ép buộc, cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã L. Thời gian đầu sống hạnh phúc, sau thời gian ngắn thì đã có nhiều mâu thuẫn xảy ra, do không tìm được tiếng nói chung. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh làm ăn bị thua lỗ, nợ nần. Năm 2022, chị T mang theo con bỏ về quê ngoại trên Thái Nguyên sinh sống, khoảng hai năm, đến cuối năm 2023, anh yêu cầu đưa các con về nhà cho các cháu đi học tại L nhưng chị T không cho về, đến tết năm 2023, chị T mới đưa con về nhưng anh chị không ở chung nhà, sau đó anh đi làm tại khu V, chị T nhiều lần đến công ty anh chửi bới, làm mất uy tín của anh, nên vợ chồng không còn tình cảm không thể chung sống được với nhau, anh chị đã sống ly thân từ cuối tháng 12/2023 cho đến nay không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn anh đề nghị được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh chị có hai con là Vũ Thị Phương N, sinh ngày 22/4/2014 và Vũ Ngọc Bảo C, sinh ngày 02/10/2021. Anh đồng ý để cho chị T nuôi con anh tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000đ/tháng/2 con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ cũng không có anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh V trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Chị Lăng Thị T là bị đơn trình bày: Chị và anh Vũ Văn V kết hôn với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, trước khi kết hôn, chị và anh có tự nguyện tìm hiểu và quyết định đi đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, sau khi kết hôn chị về chung sống với anh V tại thôn Đ, xã L, quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến giữa năm 2023 vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế khó khăn nên thường xuyên cãi vã, xô xát, chị đã về nhà mẹ đẻ ở Thái Nguyên. Trong thời gian chị về nhà mẹ đẻ ở Thái Nguyên ở thì anh V đã có mối quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay, chị và anh V đã li thân chấm dứt mối quan hệ tình cảm và kinh tế, anh V làm đơn xin ly hôn với chị, quan điểm của chị là chị không đồng ý vì chị thương các con.
Về con chung, anh chị có hai con chung là cháu Vũ Thị Phương N, sinh ngày 22/4/2014 và cháu Vũ Ngọc Bảo C, sinh ngày 02/10/2021. Hiện các con đang ở với chị, mọi chi phí sinh hoạt, đóng học phí là do chị lo. Thỉnh thoảng anh V có cho các cháu từ 500.000đ đến 600.000 đồng. Anh V nhất quyết đòi ly hôn thì chị đề nghị được nuôi hai con, cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị anh V cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đồng/ tháng/hai con. Thu nhập của chị là công nhân công ty tại khu công nghiệp V, Bắc Giang, thu nhập bình quân một tháng từ 7 đến 8 triệu đồng.
Về tài sản chung, công nợ chung chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa chị T vắng mặt.
Tại biên bản xác minh ngày 31/12/2024 với ông Hoàng Văn D trưởng thôn Đ, xã L, ông D cho biết: Anh V và chị T là công dân sinh sống tại thôn Đ xã L, chị T hiện nay không còn chung sống với anh vi từ năm 2023 đến nay. Nay anh V xin ly hôn với chị T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Văn V được ly hôn chị Lăng Thị T.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Lăng Thị T nuôi cả 2 con Vũ Thị Phương N, sinh ngày 22/4/2014 và Vũ Ngọc Bảo C, sinh ngày 02/10/2021. anh Vũ Văn V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng/2 con kể từ tháng 3/2025 đến khi các con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.
Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện của anh Vũ Văn V và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Chị Lăng Thị T có hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Bị đơn chị T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, HĐXX đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
[2] Về nội dung: Anh Vũ Văn V kết hôn với chị Lăng Thị T, năm 2013 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay và hòa thuận được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh V làm ăn dẫn đến nợ nần. Chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở và phát hiện anh V có người phụ nữ khác. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, anh V đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị T, ý kiến của anh chị T không nhất trí ly hôn nhưng chị T không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. HĐXX thấy mục đích hôn nhân không đạt được không thể hàn gắn vì anh V xác định không còn tình cảm với chị T bằng việc anh chị đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế nên cần cho anh V được ly hôn chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung Vũ Thị Phương N, sinh ngày 22/4/2014 và Vũ Ngọc Bảo C, sinh ngày 02/10/2021. Nay ly hôn phía anh V đồng ý để chị T nuôi cả 2 con, chị T cũng đề nghị được nuôi 2 con, tại biên bản lấy lời khai của cháu N nguyện vọng của cháu cũng mong muốn được ở với chị T. HĐXX xét thấy cần giao cho chị T nuôi cả 2 con là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự. Cấp dưỡng nuôi con các đương sự thỏa thuận và thống nhất anh V góp cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng/2 con nên HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận về mức cấp dưỡng của anh V và chị T. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.
[4] Về tài sản, công nợ: Anh V chị T không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Anh Vũ Văn V phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Văn V được ly hôn chị Lăng Thị T.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Lăng Thị T nuôi 2 con Vũ Thị Phương N, sinh ngày 22/4/2014 và Vũ Ngọc Bảo C, sinh ngày 02/10/2021. Anh Vũ Văn V cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng/2 con kể từ tháng 3/2025 đến khi các con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này
- Về án phí: Anh Vũ Văn V phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 30/10/2024 theo biên lai thu số 0008547. Anh V còn phải nộp 300.000đ.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG xét xử sơ thẩm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lự |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
