|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Trang.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 347/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Tuyết M, năm 1998; Địa chỉ: Số E, Lê Văn N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Trần P, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ E, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Tuyết M trình bày: Bà M và ông P do tự yêu thương, được hai bên gia đình đồng ý và tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bà M và ông P phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà M yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông P có 02 con chung tên Trần Thiên Â, sinh ngày 07/3/2017 và Trần Tuệ N1, sinh ngày 22/6/2018 hiện đang sống bà M. Sau khi ly hôn, bà M yêu cầu được tiếp tục được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà M vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt; bị đơn ông P được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào các Điều 56,81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phan Thị Tuyết M được ly hôn với ông Trần P; bà M được tiếp tục nuôi dạy con chung Trần Thiên Â, sinh ngày 07/3/2017 và Trần Tuệ N1, sinh ngày 22/6/2018; ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Bà Phan Thị Tuyết M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần P; ông P cư trú tại thành phố C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà M vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt; bị đơn ông P được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Tuyết M và ông Trần P chung sống với nhau từ năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tòa án cũng ghi nhận ý kiến ông Trần N2 là cha của ông Trần P có nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo lại cho P biết việc bà M khởi kiện ly hôn với ông P nhưng ông P vẫn không tham gia phiên hòa giải, phiên tòa, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà M và ông P là trầm trọng, đã không còn chung sống với nhau, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc ly hôn với ông P theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Ông P, bà M có 02 con chung Trần Thiên Â, sinh ngày 07/3/2017 và Trần Tuệ N1, sinh ngày 22/6/2018. Bà M yêu cầu nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
Từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay, cháu Trần Thiên Â, Trần Tuệ N1 sống cùng với bà M, được bà M chăm sóc và cho đi học. Bà M có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M, giao cháu Trần Thiên Â, sinh ngày 07/3/2017 và Trần Tuệ N1, sinh ngày 22/6/2018 cho bà M tiếp tục nuôi dạy; ông P không cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà M khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà M đã nộp. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Tuyết M.
[1] Về hôn nhân: Bà Phan Thị Tuyết M được ly hôn với ông Trần P.
[2] Về con chung: Bà Phan Thị Tuyết M và ông Trần P có 02 con chung tên Trần Thiên Â, sinh ngày 07/3/2017 và Trần Tuệ N1, sinh ngày 22/6/2018. Bà M được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung tên Trần Thiên  và Trần Tuệ N1; ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Phan Thị Tuyết M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Phan Thị Tuyết M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0004083 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà M đã nộp đủ án phí.
Ông Trần P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Tuyết M ly hôn Trần P
