|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST. Ngày 10-3-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Kỳ Trung;
Ông Bùi Văn Thái.
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Bảo Việt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 498/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị K, sinh năm 2003. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - vắng mặt có đơn xin.
Bị đơn: Anh Cao Văn L, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - vắng mặt có đơn xin.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị K trình bày thể hiện trong hồ sơ:
Chị và anh L chung sống từ năm 2019, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 14-7-2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng cha mẹ chồng tại ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 4-2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cãi vã nhau gây mất hạnh phúc vợ chồng. Chị bỏ đi từ tháng 04-2024 đến nay. Sau khi ly thân thì vợ chồng không có hòa giải với nhau lần nào. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Cao Văn L1, sinh ngày 03-12-2020, hiện nay cháu L1 đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Cao Văn L trình bày thể hiện trong hồ sơ:
Anh thống nhất lời trình bày của chị K về ngày tháng chung sống, kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung và thời gian ly thân là đúng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng không không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến mâu thuẫn gây mất hạnh phúc gia đình.
Nay anh đồng ý ly hôn với chị K. Về con chung anh đồng ý giao con cho vợ nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị K đối với anh Cao Văn L.
- - Về con chung: Giao cháu Cao Văn L1, sinh ngày 03-12-2020 cho chị K chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu.
- - Về tài sản chung và nợ chung: không có, không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị K, bị đơn anh L2 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị K, anh L2 là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị K và anh L2 chung sống từ năm 2019, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 14-7-2022. Vợ chồng chung sống đến tháng tháng 04-2024 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và thiếu sự tin tưởng nhau trong tình cảm dẫn đến mâu thuẫn gây mất hạnh phúc gia đình. Nay cả chị K và anh L2 đều có yêu cầu được ly hôn. Từ đây, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị K yêu cầu ly hôn với anh L2, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Cháu Cao Văn L1, sinh ngày 03-12-2020, hiện nay cháu L1 đang sống cùng chị K. Chị K có yêu cầu được nuôi con và anh L2 cũng đồng ý giao con cho chị K nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao chị K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu L1 là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh L2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu.
[4] Về tài sản, nợ chung: Chị K, anh L2 không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí: Chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Dương Thị K đối với anh Cao Văn L. Chị Dương Thị K được ly hôn với anh Cao Văn L.
- Về con chung:
- - Giao cháu Cao Văn L1, sinh ngày 03-12-2020 cho chị K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- - Anh L2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu.
- - Anh Linh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị K đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012095 ngày 09-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.(Chị K đã nộp đủ án phí).
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Như Thủy |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị K ly hôn Cao Văn L
