Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 02 - 2025.

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đặng Văn Hai.
  2. Ông Nguyễn Duy Oanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Bà Phan Bích Liễu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 tháng 01 năm 2025 và ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 376/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 122A/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Cẩm T - sinh năm: 1993.

Địa chỉ (ĐKHKTT): 484A/4, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ (Tạm trú): 220, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Lê Thanh S - sinh năm: 1984.

Địa chỉ (ĐKHKTT): 484A/4, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Cẩm T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị T và anh S quen biết nhau do mai mối nên trước khi kết hôn không có tìm hiểu nhau, tổ chức đám cưới vào tháng 04/2010 đến ngày 20/9/2011 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; nhưng càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do anh S thường hay tụ tập bạn bè ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, không lo làm ăn kinh tế phụ tiếp gia đình, vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi nhau, anh S cũng đã nhiều lần hăm dọa hành hung, đánh đập chị T... Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân với anh S không có hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay. Nay chị T không còn tình cảm với anh S, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn. Chị T yêu cầu được ly hôn anh Lê Thanh S.

- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Lê Thanh T1 - sinh ngày: 26/4/2011 và Lê Duy K - sinh ngày: 16/8/2012 (hiện 02 con chung đang sống với chị T). Khi ly hôn, chị T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi 02 con chung; chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung; không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là anh Lê Thanh S vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhưng anh S không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập cho anh S nhiều lần nhưng anh S vẫn không đến Tòa án để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và không tham gia phiên tòa theo quy định.

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, con của chị T và anh S là cháu Lê Thanh T1 và cháu Lê Duy K trình bày: Khi cha mẹ ly hôn thì cả 02 cháu T1 và K đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị Phạm Thị Cẩm T.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là anh Lê Thanh S không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, anh S không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về Hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Cẩm T, cho chị T ly hôn anh Lê Thanh S.

- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Thanh T1 - sinh ngày: 26/4/2011 và Lê Duy K - sinh ngày: 16/8/2012 (hiện 02 con chung đang sống với chị T). Anh S không cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn. Anh S có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Phạm Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Lê Thanh S là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Phạm Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Lê Thanh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Xét thấy trường hợp vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về hôn nhân: Chị T và anh S chung sống vợ chồng từ năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 20/9/2011, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị T và anh S đã phát sinh nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân là do anh S sống không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn kinh tế phụ tiếp gia đình, thường xuyên tụ tập bạn bè ăn chơi, cờ bạc, rượu chè... làm cho cuộc sống vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi; chị T và cha mẹ hai bên cũng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh S không nhận thức được, không chịu sửa đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T không còn tình cảm với anh S, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn. Chị T yêu cầu được ly hôn anh Lê Thanh S.

Về phía anh S: Quá trình tham gia tố tụng, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, anh S đã được Tòa án tống đạt, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh S vẫn không có văn bản trình bày ý kiến, không sắp xếp công việc đến Tòa án để trình bày ý kiến nguyện vọng của anh S đối với yêu cầu khởi kiện của chị T; không tham dự các buổi hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay. Như vậy, anh S đã từ chối các quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định.

Bản thân anh S cũng không có thành ý mong muốn hàn gắn tình cảm với chị T, bỏ mặc, không còn quan tâm chị T và các con nên đã không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm lẫn nhau. Nếu chị T và anh S đoàn tụ tiếp tục chung sống vợ chồng thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét thấy việc chị T yêu cầu được ly hôn anh S là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về nuôi con chung: Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền nuôi 02 con chung; chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cả 02 cháu T1 và K đang có cuộc sống ổn định với chị T, có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần; nguyện vọng của 02 cháu đều mong muốn được tiếp tục sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy nên tiếp tục giao cả 02 cháu T1 và K cho chị T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu T2 và K; bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của các cháu trong sinh hoạt, học tập. Anh S được quyền tới lui thăm nom 02 con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, ...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án

quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung; không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Cẩm T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Cẩm T. Cho chị Phạm Thị Cẩm T ly hôn anh Lê Thanh S.
  2. Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị Cẩm T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Lê Thanh T1 - sinh ngày: 26/4/2011 và Lê Duy K - sinh ngày: 16/8/2012 (hiện 02 con chung đang sống với chị T).

    - Anh Lê Thanh S có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom 02 con chung, không ai được cản trở.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về chia tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Phạm Thị Cẩm T nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị T đã nộp ngày 16/10/2024 theo biên lai thu số: 0014081 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Phạm Thị Cẩm T và anh Lê Thanh S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

(ký tên, ghi rõ họ tên)(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn H

Nguyễn Duy Oanh

Trần Quốc Danh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - UBND xã Tân Phước, H. Lai Vung, ĐT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger