Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ – ST.

Ngày: 09/6/2025

V/v : Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Long
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Chu Ngọc Trọng
Ông Nguyễn Viết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim O - SN 1994 “Có mặt”

    Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Bị đơn: Anh Trần Trí T - SN 1994 “ Có mặt”

    Địa chỉ : Khu phố B, phường Q, Thành phố S,tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Chị Lê Thị Kim O trình bày:

Về hôn nhân: Chị và Trần Trí T kết hôn với nhau năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng thường xuyên cải vã dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân nhau từ 02/2024 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai nữa. Nay anh xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con: Anh chị có 01 con chung: Cháu Trần Trí Bảo N, sinh ngày 18/12/2018. Tại đơn khởi kiện chị O đề nghị giao cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, Trong quá trình giải quyết vụ án, chị O thay đổi quan điểm do cháu N đang học tập ổn định tại Thành phố S, nên chị đề nghị giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nếu sau này, anh T không đủ điều kiện và khả năng nuôi con, chị sẽ làm đơn đề nghị thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Trần Trí T trình bày:

Về hôn nhân: Thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn chị đồng ý như chị O đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh bị trầm cảm, bắt đầu theo Đạo tin lành, nên từ đó vợ chồng không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của anh chị đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn, nên chị O đã bỏ về nhà ngoại ở từ cuối năm 2024 đến nay, từ đó hai vợ chồng sống ly thân nhau. Nên nay chị O xin ly hôn với anh tại tòa, anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa lớn, không đến mức phải ly hôn nên anh không đồng ý ly hôn với chị O để vợ chồng về đoàn tụ cùng nuôi dạy con cái.

Về con: Anh chị có 01 con chung như chị O trình bày là đúng. Nếu ly hôn anh đề nghị giao cháu N cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị O giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và bổ sung thêm ý kiến về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng ngoài những nguyên nhân chị đã trình bày, còn thêm nguyên nhân là do anh T theo Đạo Đức Thánh Chúa trời nên vợ chồng không còn tiếng nói chung. Và hiện nay anh T có việc làm và thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con.

Anh T giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và có ý kiến bổ sung về công việc và thu nhập của anh: Hiện nay anh đang kinh doanh và có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi con, hơn nữa cháu N đang học tập ổn định tại S cùng với anh nên anh đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

  • - Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim O được ly hôn với anh Trần Trí T, giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết là đúng quy định theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim O và anh Trần Trí T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện,có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị O, anh T khai vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân. Chị O cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài trong nhiều năm nay, hai vợ chồng đã sống ly thân. Quan điểm của anh T cho rằng hai vợ chồng chung sống có mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau, tuy nhiên đây chưa phải là những mâu thuẫn lớn và chưa đến mức phải ly hôn.

Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện: quá trình anh chị chung sống đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được, chỉ biết rằng từ đầu năm 2024 đến nay, chị O không còn sống chung với anh T nữa.

Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay chị O vẫn cương quyết xin được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, do đó nếu buộc anh chị về đoàn tụ thì cuộc sống chung của vợ chồng cũng không cải thiện được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị O được ly hôn với anh T là phù hợp.

[3] Về con: Anh chị có 01 con chung là Cháu Trần Trí Bảo N, sinh ngày 18/12/2018. Hiện nay, anh T có điều kiện và thu nhập ổn định, cháu Bảo N đang ở và học tập tại S cùng với anh T. Cả hai bên đều thống nhất giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc thỏa thuận của anh chị là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị O phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/QH14.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 BLTTDS. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Kim O được ly hôn với anh Trần Trí T

Về con: Công nhận cháu Trần Trí Bảo N, sinh ngày 18/12/2018 là con chung của chị O và anh T. Giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị O có quyền đi lại thăm nom con chung, không được ai cản trở.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Lê Thị Kim O phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai số 0001397 ngày 23/4/2025 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn (Chị O đã nộp đủ án phí).

Chị O, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPSS;
  • - THA- TPSS;
  • - UBND phường Quảng Tiến, TPSS;
  • - Lưu hồ sơ .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ – ST. ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ – ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị O được ly hôn anh T, giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger