Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 08/12/2025.

Về tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Thúy
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lường Khánh Ly – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Phùng Duy Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án khu vực 1 - Sơn La tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 09/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lường Thị Xuân T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Tổ A, phường C, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Trung H, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ C, phường C, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại: Trại giam T3, tỉnh Phú Thọ. Địa chỉ: Xã V, tỉnh Phú Thọ. Có đơn đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong các tài liệu trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lường Thị Xuân T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị Xuân T và anh Hồ Trung H đã đăng ký kết hôn ngày 03/7/2020 tại UBND phường C, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do không có tiếng nói chung, không hòa hợp về quan điểm sống. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H1 đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1.

Về con chung: Có 01 con chung là Hồ Thanh T2, sinh ngày 05/5/2020, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T2. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Trong các tài liệu trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Hồ Trung H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Trung H và chị Lường Thị Xuân T đã đăng ký kết hôn ngày 03/7/2020 tại UBND phường C, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn. Đến ngày 01/6/2024 anh H đã vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án tại trại giam T3, tỉnh Phú Thọ thì vợ chồng đã không còn tình cảm nữa. Vợ tôi không còn quan tâm đến tôi nữa, tôi cũng mong muốn ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Hồ Thanh T2, sinh ngày 05/5/2020 hiện nay đang ở cùng mẹ. Nếu ly hôn tôi nhất trí giao con cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T2. Tôi không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Kết quả tiến hành xác minh tại UBND phường C, tỉnh Sơn La kết quả: Chính quyền địa phương không biết về mẫu thuẫn gia đình của anh H và chị T. Hiện tại 02 anh, chị không còn chung sống với nhau do anh H đang chấp hành án tại trại giam T3, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đảm bảo đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Về việc giải quyết vụ đại diện Viện kiểm sát đề nghị: căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lường Thị Xuân T. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lường Thị Xuân T, xử cho chị Lường Thị Xuân T ly hôn với anh Hồ Trung H. Về con chung: Chị Lường Thị Xuân T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Thanh T2 cho đến khi cháu trưởng thành, và có khả năng lao động. Anh Hồ Trung H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí: Buộc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Chị Lường Thị Xuân T khởi kiện yêu cầu ly hôn với Anh Hồ Trung H có địa chỉ cư trú Tổ C, phường C, tỉnh Sơn La. Vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Sơn La theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2025.

Chị Lường Thị Xuân T và anh Hồ Trung H đã có bản tự khai; chị T và anh H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị Lường Thị Xuân T và anh Hồ Trung H.

[2] Về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị Xuân T và anh Hồ Trung H có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn ngày 03/7/2020 tại UBND phường C, tỉnh Sơn La, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị ly hôn với anh Hồ Trung H do vợ chồng anh chị chung sống không có hạnh phúc, anh H hiện đang đi chấp hành án tại Trại giam T4, tỉnh Phú Thọ và cũng nhất trí ly hôn.

Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, chị T đã không chung sống với anh H từ năm 2020 cho đến nay, mục đích hôn nhân chung sống hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn với anh H.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung là Hồ Thanh T2, sinh ngày 05/5/2020, chị T đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T2. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H cũng nhất trí trong trường hợp ly hôn sẽ giao cháu Hồ Thanh T2 cho cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu, anh T2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, anh H đang chấp hành án, không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần để cháu T2 ở cùng chị T. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, cần chấp nhận nguyện vọng của chị T và anh H, giao Hồ Thanh T2 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: căn cứ vào trình bày, đề nghị của chị T và anh H, căn cứ vào điều 82, điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, sau này nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự riêng.

[2.5] Về tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Lường Thị Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn chị Lường Thị Xuân T, bị đơn anh Hồ Trung H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 81, điều 82, điều 83, điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị Xuân T ly hôn với anh Hồ Trung H.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hồ Thanh T2, sinh ngày 05/5/2020 cho Lường Thị Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hồ Trung H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lường Thị Xuân T không yêu cầu.
  4. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết, sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
  5. Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  6. Về án phí: Chị Lường Thị Xuân T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000281, ký hiệu BLTU/25E, ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lường Thị Xuân T, bị đơn anh Hồ Trung H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 - Sơn La;
  • - Thi hành án tỉnh Sơn La;
  • - UBND phường Chiềng Sinh, tỉnh Sơn La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Thị Quỳnh Trang

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thúy Nguyễn Thị Ngọc Lan

Đào Thị Quỳnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST. ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lường Thị Xuân Tr xin ly hôn anh Hồ Trung H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger