|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-3-2025 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Lê Văn Tám
- 2/ Ông Huỳnh Ngọc Trứ
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1999;
- Địa chỉ: ấp B, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 2003;
- Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
(Có mặt chị N; vắng mặt anh T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 10-9-2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị Ái N trình bày:
Chị Nguyễn Thị Ái N và anh Nguyễn Chí T tự nguyện chung sống và cưới nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Chị N và anh T chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa hợp, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Nay mâu thuẩn giữa chị và anh T ngày càng trầm trọng, không có khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chí T.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị N và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/11/2021. Thời gian qua, anh T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Anh T chăm sóc con rất tốt và có đủ điều kiện nuôi con. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi con chung nên chị N đồng ý giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/11/2021 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị N chưa cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai ngày 22-01-2025 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Chí T trình bày:
Anh T và chị N tự nguyện chung sống và cưới nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn năm 2023. Anh T và chị N chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa hợp. Chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Thời gian vợ chồng ly thân anh T có nhiều lần đến gặp chị N hàn gắn nhưng không thành. Nay đối với yêu cầu ly hôn của chị N, anh T tôn trọng quyết định của chị N nhưng anh không đồng ý ký tên thuận tình ly hôn. Nay do còn thương vợ thương con, mong muốn hàn gắn để cùng lo cho con nên anh T không đồng ý ly hôn với chị N. Tuy nhiên, anh T không có phương án gì khác để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/11/2021. Khi ly hôn, anh Nguyễn Chí T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Gia H đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị Nguyễn Thị Ái N cấp dưỡng nuôi con. Thời gian qua, anh T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Anh T chăm sóc con rất tốt. Hiện tại anh T mua bán trái cây, thu nhập mỗi tháng khoảng 9.000.000đồng đến 10.000.000đồng, đủ điều kiện nuôi con; ngoài ra còn có cha mẹ ruột của T phụ giúp nuôi cháu H nên điều kiện nuôi con tốt.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa,
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái N giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn Nguyễn Chí T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Thị Ái N yêu cầu ly hôn với bị đơn Nguyễn Chí T có nơi cư trú tại ấp P, xã L, Thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang theo qui định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ái N và anh Nguyễn Chí T xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời khai của chị Nguyễn Thị Ái N và anh Nguyễn Chí T đã thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẩn, điều kiện nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung. Do vậy, căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết nêu trên là sự thật.
Xét yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh T, Hội đồng đồng xét xử thấy rằng mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị N và anh T lại phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn lại được, khiến cho mục đích hôn nhân không đạt được. Anh chị cũng đã ly thân một khoảng thời gian dài. Mặc dù, anh T không đồng ý ly hôn nhưng trong thời gian qua anh T và chị N không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau. Quá trình Tòa án làm việc thì chị N xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, không thể sống chung được nữa nên chị N vẫn kiên quyết xin được ly hôn với anh T. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn trong hôn nhân của anh chị đã rất trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị là không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh T.
[3] Về con chung: Cháu Nguyễn Ngọc Gia H chưa đủ 18 tuổi nên rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha hoặc mẹ. Giữa chị N và anh T đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con chung, sự thỏa thuận này giữa chị N và anh T đã đảm bảo điều kiện phát triển về mọi mặt của con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận, giao con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/11/2021 cho anh T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị N có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí thì chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
- - Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ái N.
1/ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ái N được ly hôn với anh Nguyễn Chí T.
2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 09/11/2021 cho anh Nguyễn Chí T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Ái N chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị Ái N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3/ Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Ái N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị đã tạm nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000556 ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, do đó xem như đã nộp xong án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Cẩm L |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Ng - T
