Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 28 - 5 - 2025.

“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2025/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025, về “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025, của Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2025/QĐXXPT-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1991; Chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phùng H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm T, xã X (Xã X cũ), huyện T, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Phùng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải và lời khai tại phiên toà nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phùng H kết hôn với nhau vào ngày 18/11/2020 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, anh H đập chị nhiều lần nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn nữa, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phùng H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phùng Gia H1, sinh ngày 16/7/2021 hiện đang ở với chị. Vợ chồng ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh Nguyễn Phùng H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu) cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về chia tài sản: Vợ chồng có tiền gửi tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N phòng G số tiền 10.001.200 đồng; Tiền gửi tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T phòng G1 số tiền 88.148.200 đồng.

Tổng tiền vợ chồng gửi tại ngân hàng là: 98.149.400 đồng (Chín mươi tám triệu, một trăm bốn chín ngàn, bốn trăm) đồng.

Số tiền này anh Nguyễn Phùng H đã rút chi tiêu cá nhân hết, không đưa cho chị. Nay chị Trần Thị M yêu cầu chia đôi số tiền trên cho vợ chồng.

Đối với máy giặt P và máy lọc nước nay chị Trần Thị M không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Không nợ ai, không yêu cầu giải quyết.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Nguyễn Phùng H có ý kiến:

Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Trần Thị M, nhưng chị Trần Thị M xin ly hôn thì anh đề nghị Toà án giải quyết cho chị Trần Thị M được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phùng Gia H1, sinh ngày 16/7/2021. Anh Nguyễn Phùng H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị Trần Thị M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Nguyễn Phùng H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với tiền gửi tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T phòng G1 và Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N phòng giao dịch Kim L thì anh đã rút về chi tiêu hết trong gia đình. Chị Trần Thị M khai tài sản như trong đơn khởi kiện là không đúng sự thật, anh không nhất trí.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025, của Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 2, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, 35, 38, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Nguyễn Phùng H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Phùng Gia H1, sinh ngày 16/7/2021 cho chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Buộc anh Nguyễn Phùng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (Một triệu, năm trăm ngàn) đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 02/2025.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Chia cho anh Nguyễn Phùng H được nhận 49.074.700 (Bốn chín triệu, bảy tư ngàn, bảy trăm) đồng, số tiền này anh H đang giữ.

Buộc anh Nguyễn Phùng H phải trích tiền giá trị tài sản cho chị Trần Thị M là 49.074.700 (Bốn chín triệu, bảy tư ngàn, bảy trăm) đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/3/2025, bị đơn anh Nguyễn Phùng H có đơn kháng cáo với nội dung: Anh H không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị M. Anh H không đồng ý giao con cho chị M nuôi, đề nghị Tòa án giao con cho anh H nuôi. Anh H đề nghị Tòa án không chấp nhận chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án xem xét lại án phí chia tài sản.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh Nguyễn Phùng H vắng mặt, có đơn trình bày vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của anh.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa phúc thẩm.

[1] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Phùng H. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Phùng H kết hôn trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 18/11/2020 là hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Chị Trần Thị M xin ly hôn thì trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Nguyễn Phùng H cũng đề nghị Toà án giải quyết cho chị Trần Thị M được ly hôn nên việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị M là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm, anh H vắng mặt, chị M không nhất trí trở về đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh H, cần giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

[1.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phùng Gia H1, sinh ngày 16/7/2021. Chị Trần Thị M yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh Nguyễn Phùng H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu) đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Anh Nguyễn Phùng H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị Trần Thị M phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Phùng H đều có yêu cầu được nuôi con, đây là yêu cầu chính đáng của cả hai người. Tuy nhiên, xét thấy hiện tại cháu Nguyễn Phùng Gia H1, sinh ngày 16/7/2021 đang còn nhỏ và đang ở với chị Trần Thị M ổn định, do đó giao con chung cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Nguyễn Phùng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000 đồng là đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Phùng H, cần giữ nguyên cách giao của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là phù hợp.

[1.3] Về tài sản chung: Chị Trần Thị M khai vợ chồng có tiền gửi tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N phòng G và Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T phòng G1 với tổng số tiền là: 98.149.400 (Chín mươi tám triệu, một trăm bốn chín ngàn, bốn trăm) đồng.

Kết quả xác minh tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N phòng giao dịch K thì ngày 06/5/2024, anh Nguyễn Phùng H có gửi tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N phòng giao dịch Kim L số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Ngày 27/5/2024 anh Nguyễn Phùng H đã rút tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N phòng giao dịch Kim L số tiền cả gốc và lãi là 10.001.200 (Mười triệu, một ngàn, hai trăm) đồng.

Kết quả xác minh tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T phòng G1 thì ngày 19/5/2021 anh Nguyễn Phùng H có gửi tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T phòng G1 số tiền 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng và ngày 20/10/2022 gửi số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Ngày 24/10/2024, anh Nguyễn Phùng H đã rút tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T phòng giao dịch Chợ C số tiền cả gốc và lãi là 22.398.600 đồng và số tiền số tiền cả gốc và lãi 65.749.600 đồng.

Như vậy, số tiền mà anh H đã rút tại Ngân hàng là 98.149.400 (Chín mươi tám triệu, một trăm bốn chín ngàn, bốn trăm) đồng, số tiền này anh H rút trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H cho rằng đã chi tiêu hết trong gia đình nhưng không chứng minh được chi tiêu vào những khoản gì. Đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, hiện nay anh H đang giữ, chị M yêu cầu chia đôi, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của chị M, buộc anh H phải trích tiền giá trị tài sản cho chị M số tiền 49.074.700 (Bốn chín triệu, bảy tư ngàn, bảy trăm) đồng là có căn cứ nên cần giữ nguyên. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh H.

Đối với máy giặt giặt P và máy lọc nước nay chị Trần Thị M không yêu cầu giải quyết, nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về án phí: Kháng cáo của anh H không được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Phùng H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025, của Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Phùng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011985 ngày 10/3/2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
  3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Thanh Chương;
  • - Chi cục THADS H.Thanh Chương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger