Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-PT

Ngày 27 - 11 - 2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp

chia tài sản chung, nợ chung”

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hải;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dương và bà Từ Thị Hải Dương.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nhàn- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLPT- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp tài sản chung, nợ chung”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Thanh L, sinh năm 1969; CCCD số [...], địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Cao Thị Kim L1, sinh năm 1968, CCCD [...], địa chỉ: Tổ dân phố D, xã M, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C - Chi nhánh M, địa chỉ: xã M, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Người kháng cáo: Bà Cao Thị Kim L1 - là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thì nội dung vụ án như sau:

* Nguyên đơn ông Phan Thanh L trình bày: Ông kết hôn với bà Cao Thị Kim L1 vào ngày 23/11/2001 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Quảng Trị trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì này sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên ông làm đơn yêu cầu được ly hôn bà L1.

- Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là Phan Thanh S, sinh ngày 15/01/2002, hiện nay đã trưởng thành, nên ông L không tranh chấp về con chung. Bà L1 yêu cầu ông L bù đắp công sức nuôi con, ông không đồng ý. Ông L đồng ý hỗ trợ cho cháu S 13.000.000 đồng để cháu trả tiền vay nợ ngân hàng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn bà Cao Thị Kim L1 trình bày: Bà L1 đồng ý ly hôn với ông L nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bà Cao Thị Kim L1 trình bày hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, nhưng bà L1 mong muốn ông L vì con chung suy nghĩ và quay lại xây dựng hạnh phúc nuôi dạy con cái.

- Về con chung: Hai vợ chồng có 01 người con chung là cháu Phan Thanh S, sinh ngày 15/01/2002. Mặc dù con đã trên 18 tuổi nhưng do hoàn cảnh gia đình dẫn đến tâm lý, học hành sa sút bị trầm cảm, bà L1 phải chữa trị cho cháu nhưng đến nay chưa hoàn toàn bình thường được, hiện nay cháu đã đi làm nhưng bà L1 vẫn phải chu cấp nuôi con. Trong 10 năm hai vợ chồng ly thân, một mình bà L1 nuôi con, ông L không đóng góp nuôi con nên bà L1 yêu cầu Tòa án giải quyết xem xét bù đắp công sức bà L1 nuôi con một mình.

- Về tài sản chung: Bà L1 không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

- Về nợ chung: Vay ngân hàng C số tiền 26.000.000 đồng, vay cá nhân 60.000.000 đồng.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị, đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35, khoản 1 điều 273 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 luật hôn nhân và gia đình; Điều 144, khoản 4 điều 147 bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Phan Thanh L được ly hôn với bà Cao Thị Kim L1.

- Công nhận sự tự nguyện của anh Phan Thanh L về hỗ trợ trả tiền vay cho con chung là cháu Phan Thanh S, sinh ngày 15/01/2002 số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2025, bị đơn bà Cao Thị Kim L1 kháng cáo Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử thỏa đáng theo thực tế và yêu cầu của bản thân.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Cao Thị Kim L1 giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày rỏ thêm nội dung kháng cáo: Bà L1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử thỏa đáng theo thực tế và yêu cầu của bản thân; bà đồng ý ly hôn với điều kiện ông L phải bồi thường cho bà tiền nuôi con một mình thời gian dài; trả khoản tiền bà vay cho con tại Ngân hàng chính sách, vì con chung hiện tại đang khó khăn nếu để con chung tự trả khoản vay này là quá khó khăn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật TTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị Kim L1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Cao Thị Kim L1 làm đơn kháng cáo. Xét thấy, đơn kháng cáo của bị đơn phù hợp với các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Phan Thanh L yêu cầu ly hôn, bị đơn bà Cao Thị Kim L1 cư trú tại xã M, tỉnh Quảng Trị. Bị đơn bà Cao Thị Kim L1 yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung. Tòa án nhân dân khu vực 2 căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung” là đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị Kim L1, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Thanh L và bà Cao Thị Kim Liên kết H năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Quảng Trị (thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình cũ) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm. Hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2015. Bà L1 cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nhưng mong muốn ông L vì con chung suy nghĩ và quay lại xây dựng hạnh phúc nuôi dạy con cái. Xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện giữa hai bên nhưng những mâu thuẫn giữa ông L và bà L1 là không thể hàn gắn được. Hai vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ lâu từ năm 2015 đến nay. Vì vây, Tòa án cấp sơ thẩm xử cho ông L được ly hôn với bà L1 là có căn cứ.

[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Phan Thanh L và bà Cao Thị Kim L1 có 01 chung là anh Phan Thanh S, sinh ngày 15/01/2002. Bà L1 yêu cầu Tòa án giải quyết xem xét bù đắp công sức bà L1 nuôi con một mình trong 10 năm hai vợ chồng ly thân. Tuy nhiên, hiện nay anh S đã trưởng thành và bà L1 cũng không có căn cứ để chứng minh nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà L1 và không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh S là có căn cứ. Kháng cáo của bà liên yêu cầu buộc ông L phải bồi thường cho bà tiền nuôi con là không có cơ sở để chấp nhận.

[3.3] Về tài sản chung: Ông Phan Thanh L trình bày không có tài sản chung. Bà L1 khai có một thửa đất số 64, tờ bản đồ số 46, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, tỉnh Hà Tĩnh (Tổ dân phố H, phường B, thị xã H cũ). Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bà L1 không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.

[3.4] Về nợ chung: Ông L khai không có nợ chung, nhưng bà L1 khai vay ngân hàng C số tiền 26.000.000 đồng, vay cá nhân 60.000.000 đồng.

Tại công văn số 263/NHCS-TD ngân hàng C trả lời ông Phan Thanh L và bà Cao Thị Kim L1 không có khoản vay chung, chỉ có con đẻ của ông L và bà L1 là anh Phan Thanh S, sinh năm 2002 đứng tên vay vốn chương trình hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm vay ngày 16/01/2024, số tiền vay 70.000.000 đồng. Như vậy, bà L1 và ông L không có khoản vay nào từ ngân hàng C. Đối với khoản vay cá nhân 60.000.000 đồng bà L1 kê khai nhưng không cung cấp được tài liệu để chứng minh khoản vay này. Như vậy, có thể xác định rằng ông L và bà L1 không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân và việc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến các khoản nợ chung của ông L và bà L1 là có cơ sở. Kháng cáo của bà L1 yêu cầu ông L trả khoản tiền vay cho anh S (con chung) tại Ngân hàng chính sách không được ông L chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm không có căn cứ để buộc ông L trả nợ thay khoản vay này. Ông L đồng ý hỗ trợ trả tiền vay cho con chung là cháu Phan Thanh S, sinh ngày 15/01/2002 số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) là sự tự nguyện của ông L. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, không chấp nhậntoàn bộ kháng cáo của bà Cao Thị Kim L1 và giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị Kim L1; giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị.

Căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35, khoản 1 điều 273 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 luật hôn nhân và gia đình; Điều 144, khoản 4 điều 147 bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Phan Thanh L được ly hôn với bà Cao Thị Kim L1.
  2. Công nhận sự tự nguyện của anh Phan Thanh L về hỗ trợ trả tiền vay cho con chung là cháu Phan Thanh S, sinh ngày 15/01/2002 số tiền 13.000.000 đ (Mười ba triệu đồng).
  3. Án phí:
    • - Án phí sơ thẩm: Ông Phan Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông L đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng theo Biên lai số 0000352 ngày 16/7/2025 tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Quảng Trị nay được khấu trừ.
    • - Án phí phúc thẩm: Bà Cao Thị Kim L1 phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000517 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Bà L1 đã nộp đủ.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - TAND KV 2;
  • - THADS KV 2;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh L - Cao Thị Kim L1 "Ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger