|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 09/12/2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hoa;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Thanh
Ông Ngô Quang Dũng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long, Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy H, Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 05/2025/TLPT-HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”, do có kháng cáo của Bị đơn đối với Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 20/2025/HNGĐ-ST, ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành tỉnh Nam Định.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5989/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 11 năm 2025 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị T; sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình (Trước là: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định). Hiện đang cứ trú tại: Số B, đoạn B, đường N, quận G, thành phố Đ, Đài Loan. Số Giấy chứng minh nhân dân: [...], Số hộ chiếu: C7495589, số định danh cá nhân: 036191015792. Xin xét xử vắng mặt tại các phiên tòa, các cấp xét xử. Vắng mặt.
- Người đại diện nhận văn bản tố tụng: Bà Nguyễn Thị T1; sinh năm 1949 (Mẹ chị T); địa chỉ: Xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình (Trước là: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định). Có mặt
- Bị đơn: Nguyễn Phúc H1; sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình (Trước là: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định). Số định danh cá nhân: 036191015792. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Phúc H1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phúc H1 có quá trình tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình chồng. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn thì vợ chồng bàn bạc để chị T đi nước ngoài làm việc kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Năm 2019, chị T xuất cảnh lao động sang Đài Loan làm việc. Thời gian đầu ở nước ngoài vợ chồng liên lạc, quan tâm hỏi han nhau, nhưng khoảng vài năm gần đây, vợ chồng ít liên lạc sau đó thưa dần, mỗi lần liên lạc vợ chồng cũng lại xảy ra mâu thuẫn cãi vã, xúc phạm nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau, thiếu sự quan tâm, tin tưởng nhau về tình cảm, kinh tế. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng để hòa giải và hàn gắn tình cảm, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng hôn nhân không thể cứu vãn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên xin ly hôn với anh H1.
- Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là Nguyễn Gia H2, sinh ngày 02/02/2012 và Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2016, các cháu đang sống cùng anh H1. Hiện nay chị T đang ở nước ngoài không có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung nên khi ly hôn chị T đề nghị giao hai con cho anh H1 nuôi dưỡng. Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yên cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản làm việc ngày 21/04/2025, anh Nguyễn Phúc H1 trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay chưa về. Thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc thường xuyên nhưng sau ít dần và nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nay chị T xin ly hôn, anh không đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Gia H2, sinh ngày 02/02/2012 và Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2016, hiện các cháu đang sống cùng anh. Trong trường hợp ly hôn, anh H1 đề nghị được nuôi dưỡng cả hai cháu và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành tỉnh Nam Định đã quyết định:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Xử ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phúc H1.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 02/02/2012 và cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2016 cho anh Nguyễn Phúc H1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Trần Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) kể từ tháng 05 năm 2025 cho đến khi cháu H2 và cháu Quỳnh A trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở nhưng không được lợi dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/6/2025, bị đơn là anh Nguyễn Phúc H1 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn anh Nguyễn Phúc H1 có ý kiến: Giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung một lần hoặc chia làm hai lần cũng được và phải chuyển tiền cấp dưỡng xong mới đồng ý ly hôn, nếu không thì anh không có khả năng nuôi con, không đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
Quan điểm của Viện công tố và xét xử phúc thẩm tại Hà Nội:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên toà: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Bản án sơ thẩm cho chị T anh H1 ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Chị T đang ở nước ngoài không có điều kiện nuôi con. Hai con ở với anh H1 từ năm 2019 phát triển bình thường. Bản án sơ thẩm giao anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con là có căn cứ, đúng quy định. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H1 yêu cầu chị T phải chuyển tiền cấp dưỡng nuôi hai con một lần hoặc chia làm hai lần. Theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024, trường hợp không thỏa thuận được mức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của hai bên. Do vậy, các đương sự không thỏa thuận được, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Phúc H1. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của anh H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
- [1] Bị đơn anh Nguyễn Phúc Hạnh vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Ngày 11/6/2025 anh H1 nhận được Bản án sơ thẩm. Ngày 24/6/2025 có Đơn kháng cáo, nộp tạm ứng án phí trong hạn, là đảm bảo thời hạn, hình thức, nội dung nên hợp lệ, được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về sự vắng mặt của Nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt Nguyên đơn.
* Về nội dung:
- [3] Xét kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Phúc H1 không đồng ý việc giao cả hai con cho anh H1 nuôi, vì hoàn cảnh của anh khó khăn, không đồng ý với hình thức cấp dưỡng theo tháng mà phải gửi 2/3 số tiền cấp dưỡng nuôi 2 con đến 18 tuổi, tự lập được và phải nhận được số tiền trên trước khi ly hôn, tại phiên tòa phúc thẩm để nghị chuyển một lần hoặc chia làm 2 lần và phải chuyển trước khi ly hôn. Hội đồng xét xử thấy:
- [4] Về hôn nhân: Bản án sơ thẩm nhận định chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phúc H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 18/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống xa nhau, thiếu sự quan tâm, tin tưởng nhau dẫn đến tình cảm phai nhạt dần. Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh H1 đã trầm trọng kéo dài, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- [5] Về con chung: Chị T và anh H1 có 02 con chung là Nguyễn Gia H2, sinh ngày 02/02/2012 và Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2016. Các con do anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng từ 2019 đến nay, phát triển bình thường. Chị T đi lao động tại Đài Loan từ 2019, không có điều kiện trực tiếp nuôi con. Do vậy, Bản án sơ thẩm giao cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi của các con và điều kiện của anh H1, chị T.
- [6] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T tự nguyên cấp dưỡng nuôi con đến khi trưởng thành mỗi tháng 3.000.000đ cho cả hai con. Anh H1 yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ một tháng cho cả hai con. Bản án sơ thẩm buộc chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [7] Về phương thức cấp dưỡng: Anh H1 kháng cáo yêu cầu chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con phải chuyển tiền cấp dưỡng một lần hoặc chia làm hai lần và phải chuyển trước khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, khoản 3 Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 có nội dung: “Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng”. Tại phiên tòa phúc thẩm chị T không có mặt, do vậy, không thể thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng, nên Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng là có căn cứ, đúng quy định. Kháng cáo của anh H1 không có căn cứ, không được chấp nhận.
- [8] Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
- [9] Về án phí: Kháng cáo của anh Nguyễn Phúc H1 không được chấp nhận, do vậy, phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyết định:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Phúc H1; Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 20/2025/HNGĐ-ST, ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành tỉnh Nam Định.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Phúc H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000151 ngày 03/7/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hoa |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-PT ngày 09/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn,
