|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-PT Ngày: 08/4/2025 V/v: Chia tài sản sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Dung.
Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân
Bà Lê Thị Phương Thanh
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLPT-DSPT ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc: “Chia tài sản sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXX - PT ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L - Sinh năm: 1985
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M - Sinh năm: 1982
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng TMCP P1
- Bà Lê Thị L1 - sinh năm 1975 và ông Tào Văn N, sinh năm 1967
- Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1963
- Chị Lê Thị H1 - sinh năm 1990
- Chị Lê Thị P - sinh năm 1982 và anh Lê Hồng S, sinh năm 1980
- Chị Lê Thị N1 - sinh năm 1983 và anh Bùi Trí A, sinh năm 1981.
- Bà Nguyễn Thị N2 – Sinh năm 1954 và ông Lê Văn C1
- Bà Lê Thị N3, sinh năm 1969 và ông Lê Văn T1, sinh năm 1964.
- Bà Lê Thị H2 - sinh năm 1971 và ông Phạm Văn T2, sinh năm 1967.
- Bà Nguyễn Thị N4 - Sinh năm 1949
- Bà Nguyễn Thị H3 - Sinh năm 1976
- Ông Trần Văn Đ1- Sinh năm 1957
- Bà Nguyễn Thị Á - Sinh năm 1977
- Chị Nguyễn Thị N5, sinh năm 1984 và anh Phạm Văn B, sinh năm 1981.
- Bà Nguyễn Thị Đ2 - Sinh năm 1979
- Ông Lê Minh Đ3 – sinh năm 1965
- Bà Lưu Thị L2, sinh năm: 1968
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T - Chức vụ Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP P1.
Đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Lê Minh Đ - Chức vụ: Phó GĐCN T.
Người được ông Lê Minh Đ ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trung C.
Địa chỉ: Lô F - G P, P Ð, Tp T, Thanh Hóa.
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn Hoàng Thành, xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Người đại diện theo ủy quyền của ông C1 là bà : Nguyễn Thị N2.
Địa chỉ: thôn B, xã T huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T - Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T - Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T - Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Địa chỉ: Phường Y, Quận C - Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ2 là: Chị Nguyễn Thị N5, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị L1, bà Nguyễn Thị N2, anh Bùi Trí A, bà Nguyễn Thị N4. Vắng mặt đại diện Ngân hàng TMCP P1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L3 trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn M khi còn là vợ, chồng có tạo dựng được khối tài sản chung và có những khoản nợ mà chưa tự thống nhất, thỏa thuận chia được với nhau cụ thể như sau:
+ Về tài sản: Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm lần 1, khi Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ và thành lập Hội đồng định giá. Đến nay giữa chị và anh M không phát sinh thêm tài sản gì mới trên đất, và chị thống nhất với giá trị tài sản Hội đồng định giá đã định giá tài sản vào tháng 05/2023. Chị xác định hội đồng định giá tài sản khách quan và chi tiết đúng với giá trị thực tế của tài sản. Nên chị không đồng ý với yêu cầu định giá lại tài sản của anh M.
Chị và anh M có một số tài sản chung là: 01 nhà 2 tầng và các công trình phụ trị giá 260.343.000 đồng; 01 thửa đất ở 125 m² trị giá 625.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của vợ chồng là: 885.343.000đ (T3 trăm tám mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
Về hiện vật chị đề nghị được chia bằng hiện vật là Nhà và quyền sử dụng đất để chị có chỗ ở ổn định nuôi dưỡng hai con. Chị sẽ có trách nhiệm trả giá trị chênh lệch về tài sản cho anh M.
+ Về công nợ: Chị và anh M có các khoản nợ chung cụ thể gồm
- - Nợ Ngân hàng TMCP P1 đến ngày 24/4/2023 số tiền 383.324.000 đồng. Từ tháng 4/2023 đến tháng 9/2023 chị và anh M cùng nhau trả tiền gốc theo phân kỳ và tiền lãi cho Ngân hàng. Từ tháng 9/2023 đến nay, mình chị phải trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi theo phân kỳ.
- - Nợ ông Lê Minh Đ3 20.000.000 đồng, không tính lãi suất.
- - Nợ bà Nguyễn Thị Á 42.000.000 đồng, không tính lãi suất.
- - Nợ bà Nguyễn Thị H3 15.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng.
- - Nợ bà Nguyễn Thị N2 số tiền 270.000.000 đồng vào ngày 15/01/2022, Trong đó, 100.000.000 đồng là lãi suất 0.8%/tháng, 170.000.000 đồng là lãi suất 1%/tháng.
- - Nợ chị Lê Thị H1 số tiền 22.800.000 đồng vay tháng 01/2023 với lãi suất 1%/ tháng.
- - Nợ vợ chồng chị Lê Thị L1, anh Tào Văn N số tiền 92.000.000 đồng vay ngày 08/01/2022 với lãi suất 1%/ tháng.
- - Nợ bà Nguyễn Thị H số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 24/10/2020 với lãi suất 1%/ tháng. Quá trình vay ngày 09/6/2021, chị đã trả được số tiền 20.000.000 đồng cho bà H. Đến nay chị và anh M còn nợ lại bà H số tiền 30.000.000 đồng với mức lãi suất 1% một tháng tính từ ngày 09/6/2021.
- - Nợ vợ, chồng chị Lê Thị P, anh Lê Hồng S số tiền 130.000.000 đồng vay ngày 03/10/2022 với lãi suất 1%/ tháng.
- - Nợ vợ, chồng chị Lê Thị N1, anh Bùi Trí A số tiền 108.000.000 đồng vay ngày 20/5/2021. Trong đó số tiền 100.000.000 đồng lãi suất là 0,9%/tháng, còn số tiền 8.000.000 đồng không tính lãi suất.
- - Nợ vợ, chồng bà Lê Thị H2, ông Phạm Văn T2 số tiền 40.000.000 đồng vay ngày 03/10/2021 với lãi suất 0,8%/tháng.
- - Nợ vợ, chồng bà Lê Thị N3 ông Lê Văn T1 số tiền 20.000.000 đồng vay ngày 03/10/2021 với lãi suất 0,8%/tháng.
- - Nợ chị Nguyễn Thị Đ2 10.000.000 đồng, không tính lãi suất.
- - Nợ chị Nguyễn Thị N5 25.000.000 đồng, không tính lãi suất.
Chị đề nghị chia đôi trách nhiệm trả nợ các khoản nợ trên mỗi người trả 1/2 khoản nợ. Đối với khoản vay nợ ngân hàng TMCP P1 từ tháng 9/2023 đến nay một mình chỉ phải trả nợ cho ngân hàng tiền gốc và tiền lãi theo phân kỳ với tổng số tiền là 101.878.411 đồng chị yêu cầu anh M phải hoàn trả lại cho chị ½ số tiền chị đã trả cho Ngân hàng.
Đối với các khoản nợ anh M kê khai đề nghị xác định là nợ chung của chị và anh M chị có ý kiến cụ thể đối với từng khoản nợ như sau:
- - Với khoản nợ bên Tín dụng tiết kiệm Phụ nữ xã là 15.000.000 đồng khoản vay này anh M trình bày nhờ chị Nguyễn Thị Á vay hộ đứng tên người vay là chị Á. Khi vay chị không biết cũng như không được nhận tiền, anh M vay để sử dụng với mục đích riêng không sử dụng gì cho gia đình. Đến khi chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh M với trình bày nên chị không đồng ý.
- - Với khoản nợ bà Lưu Thị L2, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là 16.500.000 đồng, khoản vay này không tính lãi. Số tiền này anh M tự vay với mục đích riêng. Chị không nhận tiền, khi vay tiền chị không biết và anh M không sử dụng vào mục đích chung của gia đình nên chị không đồng ý.
- - Với khoản nợ bà N4:
- + Số tiền 95.000.000 đồng và 15.000.000 đồng bà N4 với anh M vay để sử dụng với mục đích riêng của anh M. Chị không nhận tiền, khi vay tiền chị không biết và anh M không sử dụng vào mục đích chung của gia đình nên chị không đồng ý.
- + Số tiền 2.000.000 đồng/tháng: Thì bà N4 có nói khi chị và anh M là vợ, chồng bà N4 ra ở chung với anh chị. Nên bà có đưa tiền để góp vào tiền ăn, sinh hoạt cùng vợ, chồng chị. Bà tự đưa cho vợ, chồng chị chứ chị và anh M không vay số tiền này.
- + Đối với Số tiền 200.000.000 đồng anh M và bà N4 nói là bỏ tiền xây tầng 2 nhà ở của anh, chị: Khi bà N4 ra ở với vợ, chồng chị thì thấy nhà chật chội, thì lúc đó bà bảo có 60.000.000 đồng có ý muốn phụ anh, chị để xây thêm tầng 2 chứ không phải 200.000.000 đồng. Chị đồng ý trả lại cho bà N4 số tiền 60.000.000 đồng sau khi trừ đi khấu hao.
- - Đối với khoản vay 20.000.000 đồng của Ngân hàng chính sách, anh M trực tiếp vay, chị không biết về khoản vay này, Theo chị được biết anh M đã tự trả hết số tiền vay này. Chị không liên quan đến khoản vay nên chị không đồng ý bất kỳ yêu cầu gì liên quan đến khoản vay này.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:
+ Về tài sản chung: Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm lần 1, khi Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ và thành lập Hội đồng định giá, đến nay anh không đồng ý với giá trị định giá, anh cho rằng phần đất và tài sản trên đất định giá thấp hơn so với giá trị thị trường nên anh đề nghị Tòa án thành lập Hội đồng định giá để định giá lại. Anh có nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên hết hạn do Tòa án ấn định anh chưa nộp vì nếu Tòa án thành lập hội đồng định giá thì giá trị hội đồng định giá nếu định giá cũng thấp hơn giá thị trường như Hội đồng định giá cũ. Anh đang liên hệ với công ty thẩm định giá để công ty định giá tài sản của anh và chi L3 cho khách quan.
Khi còn là vợ, chồng anh và chị L3 có một số tài sản chung là 01 nhà 2 tầng; đất ở 125 m², anh yêu cầu Toà án giải quyết chia đôi mỗi người ½ giá trị. Tại phiên tòa anh đồng ý chia tài sản bằng hiện vật cho chị L3 và chị L3 phải trả tiền chênh lệch cho anh về giá trị tài sản.
+ Về công nợ: Anh và chị L3 còn nợ một số người theo ý kiến của chị L3, anh đồng ý cụ thể như sau:
- - Nợ Ngân hàng TMCP P1 đến ngày 24/4/2023 số tiền 383.324.000 đồng. Từ tháng 4/2023 đến tháng 9/2023 anh, chị cùng nhau trả tiền gốc theo phân kỳ và tiền lãi cho Ngân hàng. Từ tháng 9/2023 đến nay, chị L3 trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi theo phân kỳ.
- - Nợ ông Lê Minh Đ3 20.000.000 đồng, không tính lãi suất.
- - Nợ bà Nguyễn Thị H3 15.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng.
- - Nợ chị Lê Thị H1 số tiền 22.800.000 đồng vào tháng 01/2023 với lãi suất 1%/ tháng.
- - Nợ vợ, chồng bà Lê Thị L1 số tiền 92.000.000 đồng vào ngày 08/01/2022 với lãi suất 1%/ tháng.
Anh đề nghị chia đôi trách nhiệm trả nợ số nợ trên cho anh và chị L3.
Đối với những khoản vay chị L3 trình bày anh không thống nhất các khoản cụ thể như sau:
- - Đối với khoản nợ bà Nguyễn Thị Á 42.000.000 đồng, không tính lãi suất. Anh và chị L3 vay bà Á nhiều hơn 42.000.000 đồng cụ thể là 86.000.000 đồng và 2 chỉ vàng, không tính lãi suất trong đó có cả khoản tiền anh và chị L3 nhờ chị Á vay quỹ tiết kiệm hội phụ nữ xã T số tiền 15.000.000 đồng. Khoản vay này đều do chị L3 nhận tiền và vàng. Khoản vay này không có giấy vay nợ cũng như giấy xác nhận nhận vàng.
- - Đối với khoản nợ vợ, chồng bà Nguyễn Thị N2 số tiền 270.000.000 đồng vào ngày 15/01/2022, Trong đó, 100.000.000 đồng là lãi suất 0.8%/tháng, 170.000.000 đồng là lãi suất 1%/tháng. Anh không trực tiếp đi vay cũng không nhận tiền. Khi chung sống chị L3 nói vay số tiền này để trả nợ cho anh và gia đình, anh không đồng ý. Anh có ký vào giấy vay nợ với bà N2 nhưng giấy vay nợ này là do chị L3 tự viết và nói anh ký trong tình trạng anh đang say rượu, không tỉnh táo.
- - Đối với khoản nợ của bà Nguyễn Thị H số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 24/10/2020 với lãi suất 1%/ tháng. Quá trình vay ngày 09/6/2021, chị L3 trình bày đã trả được số tiền 20.000.000 đồng cho bà H. Đến nay, còn nợ lại bà H số tiền 30.000.000 đồng. Anh không đồng ý vì anh không vay cũng như không được nhận tiền. Anh chỉ đồng ý còn nợ 10.000.000 đồng vì số tiền này bà H mang sang nhà cho anh, chị vay. Anh cũng không ký vào giấy vay nợ đối với bà H.
- - Đối với khoản nợ vợ, chồng chị Lê Thị P số tiền 130.000.000 đồng vào ngày 03/10/2022 với lãi suất 1%/ tháng. Anh không đồng ý vì anh không trực tiếp vay cũng như không nhận tiền. Anh có ký vào giấy vay nợ nhưng cũng trong tình trạng say rượu không tỉnh táo.
- - Đối với khoản nợ của vợ, chồng chị Lê Thị N1 số tiền 108.000.000 đồng vào ngày 20/5/2021. Trong đó số tiền 100.000.000 đồng lãi suất là 0,9%/tháng, còn số tiền 8.000.000 đồng không tính lãi suất. Anh cũng không đồng ý vì anh không trực tiếp vay cũng như không nhận tiền. Anh có ký vào giấy vay nợ nhưng cũng trong tình trạng say rượu không tỉnh táo.
- - Đối với khoản nợ vợ, chồng bà Lê Thị H2 số tiền 40.000.000 đồng vào ngày 03/10/2021 với lãi suất 0,8%/tháng. Anh không đồng ý vì thực tế anh, chị có vay nhưng đã trả rồi. Người trả tiền là chị L3, Anh chỉ nghe chị L3 nói đã trả tiền, còn anh không trực tiếp nhìn thấy chị L3 trả tiền. Khi vay nợ anh và chị L3 có viết giấy vay nợ với bà H2.
- - Đối với khoản nợ vợ, chồng bà Lê Thị N3 số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 03/10/2021 với lãi suất 0,8%/tháng. Anh không đồng ý vì thực tế khi nhà bà N3 có việc cưới cho con thì chị L3 bảo đã trả rồi. Người trả tiền là chị L3, anh chỉ nghe chị L3 nói đã trả tiền, con anh không trực tiếp nhìn thấy chị L3 trả tiền. Khoản nợ này có giấy vay nợ, anh đã ký vào giấy vay.
- - Đối với khoản nợ chị Nguyễn Thị Đ2 10.000.000 đồng, không tính lãi suất. Anh không đồng ý vì thực tế anh và chị L3 vay số tiền là 30.000.000 đồng. Khoản vay này không có giấy tờ gì. Chị Đ2 cho vay làm 2 lần: Lần 1 là 10.000.000 đồng, lần 2 là 20.000.000 đồng.
- - Đối với khoản nợ vợ, chồng chị Nguyễn Thị N5 25.000.000 đồng, không tính lãi suất. Anh cũng không đồng ý vì số tiền thực tế anh và chị L3 vay là 110.000.000 đồng. Số tiền này vay không có giấy tờ gì mà khi họp gia đình chị N5 thống nhất cho vay và đứng ra trả nợ thay cho anh, chị cụ thể là: Trả cho bà Mai Thị T4 (30.000.000 đồng), ông Nguyễn Văn H4 (20.000.000 đồng), bà Lê Thị N6 (34.000.000 đồng), bà Lưu Thị L2 (16.000.000 đồng), bà Phạm Thị O (20.000.000 đồng)
Ngoài những khoản nợ chung anh đã thống nhất anh và chị L3 trong khi là vợ, chồng còn nợ của một số người cụ thể như sau:
- - Nợ bà Lưu Thị L2, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là tổng số tiền 47.500.000 đồng trong đó trong thời điểm chị L3 đi học anh đứng ra vay 41.000.000 đồng để xây tầng 2, còn 16.500.000 đồng có chữ ký của chị L3 nhận nợ khoản vay này không tính lãi.
- - Nợ bà Nguyễn Thị N4 các số tiền như sau;
- Số tiền 95.000.000 đồng vay từ tháng 8/2019 anh, chị không phải trả lãi do bà N4 cho phần lãi này (bà N4 vay hộ của Ngân hàng B1, hiện bà N4 con nợ Ngân hàng khoảng 25.000.000 đồng)
- Nợ bà N4 15.000.000 đồng (bà N4 vay hộ hội người cao tuổi)
- Vay của bà N4 số tiền 20.000.000 đồng làm nước sạch (bà N4 vay hộ cho vợ chồng), anh, chị đã trả lãi hiện còn 17.000.000 đồng.
Hàng tháng, vay của bà N4 số tiền 2.000.000 đồng từ năm 2015 đến tháng 8/2019 với số tiền là 112.000.000 đồng.
Ngoài ra bà N4 có đóng góp xây tầng 02 của ngôi nhà chung số tiền 200.000.000 đồng. đề nghị tính khấu khao để trả lại số tiền này cho bà N4.
- Khoản vay 20.000.000 đồng của Ngân hàng chính sách do anh trực tiếp đứng vay đến tháng 12/2023 anh đã trả hết khoản vay này. Anh yêu cầu chị L3 phải trả cho anh một nửa số tiền anh đã bỏ ra trả cho ngân hàng chính sách.
Anh đề nghị chia đôi trách nhiệm trả nợ đối với khoản vay nợ nêu trên.
* Bà Nguyễn Thị N2 và ông Lê Văn C1 trình bày: Anh M và chị L3 có vay của vợ, chồng ông bà 270.000.000 đồng. Đến nay bà yêu cầu anh M chị L3 có trách nhiệm trả ngay cho bà số tiền gốc đã vay là 270.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.
* Bà Lê Thị L1 và ông Tào Văn N trình bày: Ngày 08/01/2021 vợ, chồng anh M và chị L3 có vay của vợ, chồng chị số tiền 92.000.000 đồng. Đến nay chị yêu cầu anh M và chị L3 trả toàn bộ tiền gốc cho chị, còn tiền lãi yêu cầu tính tiền lãi suất là 1% một tháng tính từ ngày vay ngày 08/01/2024.
* Bà Nguyễn Thị H trình bày: Ngày 14/10/2020, anh M và chị L3 có vay bà số tiền 50.000.000 đồng. Đến ngày 09/6/2021, chị L3 đã trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng. Đến nay bà yêu cầu anh M, chị L3 có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ 30.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo yêu cầu của pháp luật. Nay anh M cho rằng anh M chỉ vay bà số tiền 10.000.000 đồng là không đúng vì bà cho vay số tiền là 30.000.000 đồng. Khi viết giấy vay tiền chị L3 là người ký giấy vay tiền.
* Bà Lê Thị N3 và ông Lê Văn T1 trình bày: Ngày 03/10/2021, vợ chồng anh M và chị L3 có vay vợ, chồng ông, bà số tiền 20.000.000 đồng. Đến nay ông, bà yêu cầu anh M, chị L3 có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ trên và yêu cầu tính lãi 0,8%/ tháng tính từ ngày vay 03/10/2021.
* Chị Lê Thị N1 và anh Bùi Trí A trình bày: Ngày 20/5/2021, anh M và chị L3 có vay của vợ, chồng anh, chị số tiền 108.000.000 đồng. Trong đó số tiền 100.000.000 đồng lãi suất 0,9%/tháng, còn số tiền 8.000.000 đồng không tính lãi suất. Lúc đó cả anh M và chị L3 cùng nhau nhận tiền và ký giấy nhận tiền. Đến nay anh, chị yêu cầu anh M và chị L3 phải trả cho vợ, chồng anh chị toàn bộ số tiền gốc đã vay và số tiền lãi như đã thỏa thuận tính từ ngày vay.
* Bà Lê Thị H2 và ông Phạm Văn T2 trình bày: Ngày 03/10/2021, vợ chồng anh M và chị L3 có vay nợ vợ, chồng ông, bà số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất 0,8%/tháng. Chị L3 đã trả lãi đến tháng 4/2023. Đến nay, ông, bà yêu cầu anh M và chị L3 có trách nhiệm trả cho ông, bà số tiền gốc 40.000.000 đồng và lãi suất hàng tháng tính từ ngày vay cho đến khi trả nợ xong.
* Anh Phạm Văn B và chị Nguyễn Thị N5 trình bày: Chị N5 là chị gái của anh Nguyễn Văn M. Trong lúc anh M và chị L3 đang có một số khoản nợ. Thì gia đình có phiên họp gia đình, thì lúc đó vợ chồng anh cho anh M và chị L3 vay bằng cách trả nợ thay cho những người như sau: bà Mai Thị T4 (30.000.000 đồng), ông Nguyễn Văn H4 (20.000.000 đồng), bà Lê Thị N6 (34.000.000 đồng), bà Lưu Thị L2 (16.000.000 đồng), bà Phạm Thị O (20.000.000 đồng). Tổng số tiền là 110.000.000 đồng. Đến nay anh chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh M và chị L3 phải trả cho vợ, chồng anh, chị 110.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.
* Chị Nguyễn Thị Á trình bày: Chị có cho anh M và chị L3 vay tổng là 86.000.000 đồng cùng 2 chỉ vàng. Do chị là chị ruột anh M nên không có giấy tờ gì cả. Đến nay chị yêu cầu anh M và chị L3 phải trả cho chị số tiền 86.000.000 đồng cùng 2 chỉ vàng và không yêu cầu tính lãi.
* Bà Nguyễn Thị N7 trình bày:
Bà là mẹ của anh M, khi anh M và chị L3 là vợ, chồng bà có cho anh M và chị L3 vay các khoản tiền như sau:
- + Số tiền 95.000.000 đồng từ tháng 8/2019 vay hộ cho anh M chị L3 từ Ngân hàng B1.
- + Số tiền 15.000.000 đồng vay hộ từ hội người cao tuổi.
- + Số tiền 20.000.000 đồng làm nước sạch, đã trả lãi đến lúc anh M và chị L3 ly hôn còn 17.000.000 đồng. Đến nay anh M đã trả hết khoản tiền này.
- + Hàng tháng, bà đưa cho anh M và chị L3 số tiền 2.000.000 đồng từ năm 2015 đến tháng 8/2019 tổng là 112.000.000 đồng. Do bà thấy các con đang nợ nhiều nên bà đưa số tiền này để trả nợ không nói cho vay cũng như không nói cho. Bà yêu cầu anh M và chị L3 phải trả lại cho bà toàn bộ số tiền trên cho bà.
- + Ngoài ra bà có đóng góp xây tầng 02 của ngôi nhà chung số tiền 200.000.000 đồng. Bà đề nghị nếu ai là người nhận nhà thì tính khấu khao rồi trả lại số tiền này cho bà sau khi đã trừ đi khấu hao.
* Ông Trần Văn Đ1 trình bày:
Ngày 01/10/2019 ông có cho anh M và chị L3 vay số tiền 30.000.000 đồng. Đến năm 2020 thì đã trả được số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền còn lại 20.000.000 đồng ông yêu cầu trong tháng 8 hoặc tháng 9 năm 2023 phải trả cho ông đầy đủ số tiền 20.000.000 đồng còn nợ.
* Bà Lưu Thị L2 trình bày:
Khi còn là vợ, chồng anh M và chị L3 có vay của bà các lần tiền cụ thể như sau:
- Ngày 15/10/2020 anh M vay số tiền 5.000.000 đồng;
- ngày 15/11/2020 anh M vay số tiền 6.000.000 đồng;
- ngày 13/10/2020 anh M vay số tiền 20.000.000 đồng;
- Ngày 09/9/2020 chị L3 vay số tiền 16.500.000 đồng.
Đến nay bà đề nghị cả anh M, chị L3 phải trả cho bà toàn bộ số tiền trên.
* Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Đ2 là chị Nguyễn Thị N5:
Trong năm 2022 chị Đ2 có cho vợ, chồng anh M, chị L3 vay số tiền 20.000.000 đồng để trả nợ cho ông Nguyễn Văn H4 và lần thứ 2 có cho vợ, chồng anh M vay số tiền 20.000.000 đồng . Đến nay chị N5 yêu cầu anh M, chị L3 phải trả cho chị Đ2 tổng số tiền 40.000.000 đồng và không yêu cầu tính tiền lãi đối với số tiền vay nợ trên.
* Chị Lê Thị P và anh Lê Hồng S trình bày: Ngày 03/10/2022, anh M và chị L3 có vay của vợ, chồng chị số tiền 130.000.000 đồng lãi suất 1%/tháng. Đến nay anh, chị yêu cầu anh M và chị L3 phải trả cho vợ, chồng anh, chị toàn bộ số tiền gốc đã vay và số tiền lãi như đã thỏa thuận tính từ ngày vay.
* Ý kiến của đại diện Ngân hàng TMCP P1:
Ngày 14/12/2020 ngân hàng TMCP P1 và anh Nguyễn Văn M và chị Lê Thị L có ký kết hợp đồng tín dụng số 437/2020/HĐTD – CN và cho anh M, chị L vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng. Thỏa thuận trả tiền lãi hằng tháng và tiền gốc theo phân kỳ. Tính đến ngày 02/8/2024 chị L và anh M còn nợ lại số tiền là 320.819.000 đồng. Đến nay chị L và anh M đã ly hôn nên Ngân hàng TMCP P1 yêu cầu anh M và chị L phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc còn lại và tiền nợ lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp ông M và bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên phát mại, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 437/2020/BĐ – CN ngày 14/12/2020.
* Bà Nguyễn Thị H3 trình bày:
Khi còn là vợ, chồng anh M và chị L có nhờ bà vay hộ của quỹ tiết kiệm hội phụ nữ số tiền 15.000.000 đồng. Bà đồng ý vay hộ và bà đã giao tiền cho anh M và chị L. Từ khi vay nợ đến nay tiền lãi anh M, chị L vẫn trả đầy đủ. Tuy nhiên số tiền gốc chưa trả được. Đến nay anh M và chị L đã ly hôn nên bà yêu cầu cả anh M và chị L phải trả số tiền gốc 15.000.000 đồng để bà trả cho hội phụ nữ xã.
* Ông Lê Minh Đ3 trình bày:
Thời điểm chị L và anh M là vợ, chồng ông có cho anh M và chị L vay tiền nhiều lần. Đến tháng 8/2023 gia đình trả nợ còn nợ lại số tiền 20.000.000 đồng. Đến nay ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh M và chị L phải trả cho ông số tiền đã vay là 20.000.000 đồng.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành đã quyết định:
Căn cứ: Điều 33, 59, 60, 62 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm b khoản 1 Điều 24, điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tài sản chung: Công nhận chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn M có khối tài sản chung là:
- - Quyền sử dụng diện tích đất 125m² tại thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, GCNQSD số CB 647898 số vào sổ CH 00501 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2015; địa chỉ thửa đất tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trị giá 625.000.000 đồng.
- - 01 nhà 2 tầng và các công trình phụ gắn liền với thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08 trị giá 260.343.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản của chị L và anh M là: 885.343.000đ (T3 trăm tám mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
Giao cho chị Lê Thị L được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà, công trình phụ và thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, GCNQSD số CB 647898 số vào sổ CH 00501 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2015, địa chỉ thửa đất tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, và các tài sản gắn liền với đất (Hiện nay, thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, GCNQSD số CB 647898 số vào sổ CH 00501 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2015 và tài sản trên đất đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP P1).
Chị Lê Thị L có trách nhiệm trả tiền chênh lệch tài sản chung cho anh Nguyễn Văn M số tiền 442.671.500₫ (Bốn trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Chị Lê Thị L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục theo quy định để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Về công nợ chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn M có tổng số nợ chung (tính cả khoản chênh lệch tài sản nhà tầng 2 cho bà N7) là: 1.410.914.254 đồng (Một tỷ bốn trăm mười triệu chín trăm mười bốn nghìn hai trăm năm mươi tư đồng). Chia đôi trách nhiệm trả nợ đối với số tiền nợ chung mỗi người phải trả số tiền là: 705.457.127 đồng. Trách nhiệm trả nợ được chia cụ thể như sau:
2.1. Giao cho anh Nguyễn Văn M trả các khoản nợ gồm:
- - Bà Nguyễn Thị N4 106.600.000 đồng
- - Ông Trần Văn Đ1 20.000.000 đồng
- - Ông Lê Minh Đ3 20.000.000 đồng
- - Chị Nguyễn Thị Á 42.000.000 đồng
- - Bà Nguyễn Thị H3 15.000.000 đồng
- - Chị Nguyễn Thị Đ2 10.000.000 đồng
- - Vợ, chồng chị Nguyễn Thị N5, anh Phạm Văn B 25.000.000 đồng
- - Bà Lưu Thị L2 16.500.000 đồng
Tổng số tiền anh Nguyễn Văn M phải trả cho những người trên là 255.100.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).
2.2. Giao cho chị Lê Thị L trả các khoản nợ gồm:
- - Ngân hàng TMCP P1 nợ gốc và tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử 28/9/2024 là: 313.868.019 đồng.
- - Vợ, chồng bà Nguyễn Thị N2, ông Lê Văn C1 270.000.000 đồng
- - Chị Lê Thị H1 27.565.200 đồng
- - Vợ, chồng bà Lê Thị L1, ông Tào Văn N 122.053.333 đồng
- - Bà Nguyễn Thị H 39.904.370 đồng
- - Vợ, chồng chị Lê Thị P, anh Lê Hồng S 160.983.333 đồng
- - Vợ, chồng chị Lê Thị N1, anh Bùi Trí A: 144.240.000 đồng
- - Vợ, chồng bà Lê Thị H2, ông Phạm Văn T2 51.466.666 đồng
- - Vợ, chồng bà Lê Thị N3, ông Lê Văn T1 25.733.333 đồng
Tổng số tiền chị L phải trả cho những người trên là 1.155.814.254 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi lăm triệu tám trăm mười bốn nghìn hai trăm năm mươi bốn đồng)
Anh Nguyễn Văn M phải trả cho chị Lê Thị L số tiền chênh lệch về khoản nợ chung là 450.357.127 đ (Bốn trăm năm mươi triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn một trăm hai mươi bảy đồng)
3. Anh Nguyễn Văn M phải trả cho chị Lê Thị L số tiền 50.939.200 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi chín nghìn hai trăm đồng) là tiền chị L trả cho Ngân hàng TMCP P1 tiền gốc và lãi theo phân kỳ từ tháng 9/2023 đến nay.
4. Chị L phải trả cho anh M số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Là ½ số tiền anh M đã trả cho ngân hàng C2 khoản tiền nhờ bà N4 vay tiền nước sạch.
5. Đối trừ các khoản tiền chênh lệch phải trả cho nhau anh Nguyễn Văn M phải trả cho chị Lê Thị L số tiền 50.124.827 đồng (Năm mươi triệu một trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi bảy đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 08 – 09/10/2024, anh Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị N4, chị Nguyễn Thị Á, Nguyễn Thị N5 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm của TAND huyện Thạch Thành, với nội dung:
- - Anh M đề nghị nợ chung phải chia đôi mỗi người chịu ½ trách nhiệm trong số nợ chung có khoản chị L đã trả nợ rồi nhưng vẫn kê khai buộc anh có trách nhiệm trả là không đúng thực tế; đề nghị xem xét khoản nợ 95.000.000₫ bà N4 vay hộ cho vợ chồng anh, chị; đề nghị định giá lại giá trị tài sản chung của vợ chồng sát với giá thị trường. Đề nghị xem xét khoản nợ chung của anh chị với khoản bà N4 vay hộ 95 triệu đồng.
- - Bà N4 đề nghị xem xét khoản nợ 95.000.000đ bà vay hộ cho vợ chồng L, M. Số tiền bà bỏ ra xây tầng 2 chênh lệch cho bà quá thấp và yêu cầu anh M và chị L cùng chịu trách nhiệm trả cho bà.
- - Chị Á yêu cầu anh M và chị L cùng chịu trách nhiệm trả cho số tiền 86.000.000₫.
- - Chị N5 yêu cầu anh M và chị L cùng chịu trách nhiệm trả cho chị 110.000.000₫
* Tại phiên tòa: Chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
- Anh M, bà N4, chị Á, chị N5 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
* Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử HĐXX căn cứ Khoản 2 Điều 308 BLTTDS: Không chấp nhận kháng cáo của chị Á và chị N5, Chấp nhận một phần kháng cáo của của anh M và bà N4. Sửa Bản án sơ thẩm theo hướng: Chia lại giá trị tài sản cho anh M, chị L theo giá trị định giá của Công ty A1, căn cứ vào kết quả định giá mới đối với giá trị nhà tầng 2 để buộc anh M, chị L thanh toán cho bà N4 theo tỷ lệ đóng góp khi xây dựng.
- Về án phí: Anh M và bà N4 không phải chịu án phí phúc thẩm. Chị Á và chị N5 phải chịu mỗi người 300.000đ án phí DSPT được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp. Án phí dân sự sơ thẩm cũng cần điều chỉnh lại theo tổng giá trị công nợ và khoản chênh lệch các bên phải thanh toán tại cấp phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm anh M, bà N4, chị Á, chị N5 kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần quyết định của Tòa án, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn M:
2.1. Xét nội dung kháng cáo yêu cầu định giá lại tài sản: Xét thấy việc định giá tài sản được Tòa án tiến hành ở giai đoạn Tòa án giải quyết sơ thẩm lần 1 là ngày 04/7/2023, tính đến thời điểm Tòa án giải quyết sơ thẩm lần 2 ngày 28/9/2024 là đã quá 01 năm nên giá trị tài sản sẽ có biến động, nên việc yêu cầu thẩm định lại giá trị tài sản tại thời điểm giải quyết là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Ở giai đoạn phúc thẩm Công ty TNHH A1 tiến hành việc thẩm định tài sản tranh chấp của chị L, anh M xác định:
- - Giá trị quyền sử dụng đất: 700.000.000đ.
- - Giá trị công trình xây dựng trên đất: 406.736.000đ (Trong đó phần giá trị công trình tầng 2 do bà N4 đóng góp xây dựng là: 186.870.000₫).
Tổng giá trị tài sản là: 1.106.736.000₫
2.2. Xét nội dung kháng cáo của anh M về công nợ:
Phần công nợ anh M cho rằng có một số khoản chị L đã trả nợ cho bà N3 20.000.000đ, bà H2 40.000.000đ nhưng vẫn kê khai buộc anh có trách nhiệm trả là không đúng thực tế. Nhưng quá trình giải quyết vụ án anh thừa nhận đã ký vào các giấy vay, anh nại ký trong tình trạng say rượu, nhưng không có chứng cứ nào chứng minh. Việc án sơ thẩm buộc các khoản vay chị L nại là nợ chung của vợ chồng là hoàn toàn có cơ sở. Đối với các khoản nợ chung án sơ thẩm đã chia đôi mỗi người chịu trách nhiệm 1/2. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho việc thi hành án, án sơ thẩm buộc chị L trả nợ cho Ngân hàng P1 vì tài sản thế chấp là nhà, đất giao cho chị ngoài ra buộc chị trả nợ cho các khoản nợ phía gia đình chị, anh trả nợ các khoản nợ phía gia đình anh và hai bên đối trừ công nợ là phù hợp pháp luật, nên không chấp nhận kháng cáo này của anh M.
Xác định chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn M có tổng số nợ chung là: 1.304.314.000 đồng (Một tỷ ba trăm linh bốn triệu ba trăm mười bốn nghìn đồng). Chia đôi trách nhiệm trả nợ đối với số tiền nợ chung mỗi người phải trả số tiền là: 652.157.000 đồng. Trách nhiệm trả nợ được chia cụ thể như sau:
* Giao cho anh Nguyễn Văn M trả nợ cho: ông Trần Văn Đ1, ông Lê Minh Đ3, chị Nguyễn Thị Á, bà Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị Đ2, vợ chồng chị Nguyễn Thị N5, anh Phạm Văn B, bà Lưu Thị Luân . Tổng số tiền anh Nguyễn Văn M phải trả cho những người trên là 148.500.000 đồng (Một trăm bốn tám triệu năm trăm nghìn đồng).
* Giao cho chị Lê Thị L trả nợ cho: Ngân hàng TMCP P1; vợ chồng bà Nguyễn Thị N2, ông Lê Văn C1; chị Lê Thị H1; vợ chồng bà Lê Thị L1, ông Tào Văn N; bà Nguyễn Thị H; vợ chồng chị Lê Thị P, anh Lê Hồng S; vợ chồng chị Lê Thị N1, anh Bùi Trí A; vợ chồng bà Lê Thị H2, ông Phạm Văn T2; vợ, chồng bà Lê Thị N3, ông Lê Văn T1. Tổng số tiền chị L phải trả cho những người trên là 1.155.814.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi lăm triệu tám trăm mười bốn nghìn đồng).
* Chênh lệch công nợ chung:
- Anh Nguyễn Văn M phải trả cho chị Lê Thị L số tiền chênh lệch về khoản nợ chung là 503.657.000đ (Năm trăm linh ba triệu sáu trăm năm bảy nghìn đồng) và số tiền 50.939.000 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi chín nghìn đồng) là số tiền chị L trả cho Ngân hàng TMCP P1 tiền gốc và lãi theo phân kỳ từ tháng 9/2023 đến nay. Tổng số tiền anh M chênh lệch là: 554.946.000đ.
- Chị L phải trả cho anh M số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Là ½ số tiền anh M đã trả cho ngân hàng C2 khoản tiền nhờ bà N4 vay tiền nước sạch.
* Giao cho anh Nguyễn Văn M phải trả các khoản nợ riêng gồm:
- + Trả cho bà Nguyễn Thị N4 (khoản vay Ngân hàng B1 chi nhánh V) số tiền 95.000.000 đồng.
- + Trả cho bà Nguyễn Thị N4 (khoản vay Hội người cao tuổi) số tiền 15.000.000 đồng.
- + Trả cho bà Lưu Thị L2 số tiền 31.000.000 đồng.
Tổng số tiền anh Nguyễn Văn M phải trả tự trả cho những người trên là: 141.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu đồng)
[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị N4:
3.1. Kháng cáo về khoản công nợ 95.000.000đ bà vay hộ cho vợ chồng L, M:
Anh M và bà N4 trình bày là vợ, chồng nhờ bà N4 vay hộ số tiền trên. Chị L không chấp nhận khoản vay này. Trong hợp đồng vay tiền giữa bà N4 với Ngân hàng B1 bà N4 là người đứng tên, bà N4 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào về việc giao số tiền vay của Ngân hàng cho chị L và anh M. Như vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà N4 về buộc anh M, chị L phải trả cho bà N4 số 95.000.000 đồng. Anh M nhận vay khoản tiền này, nên án sơ thẩm buộc anh M tự trả cho bà N4 là phù hợp.
3.2. Kháng cáo về số tiền bà bỏ ra xây tầng 2 chênh lệch cho bà quá thấp và yêu cầu anh M và chị L cùng chịu trách nhiệm trả cho bà:
Theo thừa nhận của bà N4 khi anh M, chị L làm tầng 2 ngôi nhà thì bà N4 bỏ ra 200.000.000đ; Chị L thừa nhận vợ chồng chi phí 30.000.000đ. Tổng số tiền 230.000.000đ. Như vậy tỷ lệ đóng góp là bà N4 87%, anh M, chị L 13%. Án sơ thẩm lấy giá trị đóng góp ban đầu trừ đi khấu hao giá trị tài sản để tính là không chính xác. Mà cần lấy giá trị định giá tại thời điểm giải quyết, trừ khấu hao rồi tính theo tỷ lệ % đóng góp mới đảm bảo quyền lợi của đương sự. Do đó cách tính giá trị đóng góp của tầng 2 ngôi nhà sẽ là: Bà N4 87% của 186.870.000₫ là 162.576.000đ; anh M, chị L 13% của 186.870.000₫ là 24.293.000đ. Buộc anh M, chị L phải thanh toán cho bà N4 số tiền 162.576.000đ, mỗi người thanh toán 81.288.000đ. Giao anh M trả cho bà N4, chị L chệnh lệnh lại ½ giá trị.
[4] Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị Á và chị Nguyễn Thị N5:
Chị Á yêu cầu anh M và chị L cùng chịu trách nhiệm trả cho số tiền 86.000.000đ. Chị N5 yêu cầu anh M và chị L cùng chịu trách nhiệm trả cho chị 110.000.000₫.
4.1. Về khoản vay của chị N5: Anh M và chị N5 trình bày là chị N5 cho anh M, chị L vay số tiền 110.000.000 đồng để trả nợ cho người khác. Tuy nhiên chị L chỉ chấp nhận vay 25.000.000 đồng. Chị N5 và anh M cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào về việc giao số tiền còn lại là 85.000.000 đồng cho chị L. Tại phiên tòa xử vụ án ly hôn giữa anh M và chị L chị N5 chấp nhận không yêu cầu khoản còn lại chỉ yêu cầu giải quyết số tiền 25.000.000 đồng. Như vậy có căn cứ để chấp nhận chị N5 cho vợ chồng anh M, chị L vay 25.000.000 đồng, số tiền này cần buộc anh M, chị L phải có trách nhiệm trả cho chị N5 là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của chị N5.
4.2. Về khoản vay của chị Á: Anh M và chị Á trình bày chị L và anh M vay của chị Á số tiền 86.000.000 đồng, không tính lãi suất. Tuy nhiên chị L chỉ chấp nhận vay số tiền 42.000.000 đồng. Chị Á và anh M cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào về việc giao số tiền còn lại là 44.000.000 đồng cho chị L và anh M. Như vậy có căn cứ để chấp nhận chị Á cho vợ chồng anh M, chị L vay 42.000.000 đồng, số tiền này cần buộc anh M, chị L phải có trách nhiệm trả cho chị N5 là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của chị Á.
[5] Về chia lại tài sản chung của anh M, chị L và thanh toán giá trị tài sản cho bà N4, thanh toán chênh lệch của hai bên như sau:
Tổng giá trị tài sản là nhà, đất của chị L và anh M tại thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, diện tích 125m², GCNQSD số CB 647898 số vào sổ CH 00501 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2015; địa chỉ thửa đất tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là: 1.106.736.000đ (một tỷ một trăm linh sáu triệu bảy trăm ba sáu nghìn đồng).
Giao cho chị Lê Thị L được quyền sử dụng đất và sở hữu toàn bộ nhà, công trình phụ, và các tài sản gắn liền với đất nêu trên.
Chị Lê Thị L có trách nhiệm trả tiền chênh lệch tài sản chung cho anh Nguyễn Văn M số tiền 553.368.000đ (năm trăm năm ba triệu ba trăm sáu tám trăm đồng) giá trị tài sản và ½ khoản tiền thanh toán giá trị tài sản cho bà N4 81.288.000đ để anh M thanh toán cho bà N4. Tổng cộng là: 634.656.000đ.
Anh M có trách nhiệm thanh toán cho bà N4 giá trị nhà tầng 2 số tiền 162.576.000đ và được nhận từ chị L chênh lệch ½ giá trị tài sản và ½ khoản tiền anh M thanh toán cho bà N4 tổng là: 634.656.000đ.
Chị Lê Thị L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục theo quy định để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
=> Đối trừ các khoản tiền chênh lệch về tài sản, công nợ chung của anh M và chị L: Chị Lê Thị L phải trả cho anh Nguyễn Văn M số tiền là 88.560.000đồng (T3 mươi tám triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng).
[8] Về án phí: Anh M và bà N4 không phải chịu án phí phúc thẩm. Chị Á và chị N5 phải chịu mỗi người 300.000đ án phí DSPT được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp. Án phí dân sự sơ thẩm cũng cần điều chỉnh lại theo tổng giá trị công nợ và khoản chênh lệch các bên phải thanh toán tại cấp phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 BLTTDS
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của chị Á và chị N5, Chấp nhận một phần kháng cáo của của anh M và bà N4. Sửa Bản án sơ thẩm số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.
1. Căn cứ: Điều 33, 59, 60, 62 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
2. Về tài sản chung: Xác định chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn M có khối tài sản chung gồm: 01 nhà 02 tầng và các công trình phụ tại thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, diện tích 125m², GCNQSD số CB 647898 số vào sổ CH 00501 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2015; địa chỉ thửa đất tại: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là: 1.106.736.000đ (một tỷ một trăm linh sáu triệu bảy trăm ba sáu nghìn đồng).
- - Giao cho chị Lê Thị L được quyền sử dụng đất và sở hữu toàn bộ nhà, công trình phụ, và các tài sản gắn liền với đất nêu trên.
- - Chị Lê Thị L có trách nhiệm trả tiền chênh lệch tài sản chung cho anh Nguyễn Văn M số tiền 553.368.000đ (năm trăm năm ba triệu ba trăm sáu tám trăm đồng) giá trị tài sản và ½ khoản tiền thanh toán giá trị tài sản cho bà N4 81.288.000đ để anh M thanh toán cho bà N4. Tổng cộng là: 634.656.000đ.
- - Anh M có trách nhiệm thanh toán cho bà N4 giá trị nhà tầng 2 số tiền 162.576.000đ và được nhận từ chị L chênh lệch ½ giá trị tài sản và ½ khoản tiền anh M thanh toán cho bà N4 tổng là: 634.656.000đ.
- - Chị Lê Thị L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục theo quy định để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 710, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
[2] Về công nợ: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn M có tổng số nợ chung là: 1.304.314.000 đồng (Một tỷ ba trăm linh bốn triệu ba trăm mười bốn nghìn đồng). Chia đôi trách nhiệm trả nợ đối với số tiền nợ chung mỗi người phải trả số tiền là: 652.157.000 đồng. Trách nhiệm trả nợ được chia cụ thể như sau:
* Giao cho anh Nguyễn Văn M trả các khoản nợ gồm:
- - Trả cho ông Trần Văn Đ1 số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
- - Trả cho ông Lê Minh Đ3 số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
- - Trả cho chị Nguyễn Thị Á số tiền là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng)
- - Trả cho bà Nguyễn Thị H3 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)
- - Trả cho chị Nguyễn Thị Đ2 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)
- - Trả cho vợ, chồng Chị Nguyễn Thị N5, anh Phạm Văn B 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- - Trả cho bà Lưu Thị L2 số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng)
Tổng số tiền anh Nguyễn Văn M phải trả cho những người trên là 148.500.000 đồng (Một trăm bốn tám triệu năm trăm nghìn đồng).
* Giao cho chị Lê Thị L trả các khoản nợ gồm:
- - Trả cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử ngày 28/9/2024 với tổng số tiền 313.868.019 đồng (Ba trăm mười ba triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng).
- - Trả cho vợ, chồng bà Nguyễn Thị N2, ông Lê Văn C1 số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng)
- - Trả cho chị Lê Thị H1 số tiền là 27.565.200 đồng (Hai mươi bảy triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm đồng)
- - Trả cho vợ, chồng bà Lê Thị L1, ông Tào Văn N số tiền là 122.053.333 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu không trăm năm mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)
- - Trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 39.904.370 đồng (Ba mươi chín triệu chín trăm linh bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng)
- - Trả cho vợ, chồng chị Lê Thị P, anh Lê Hồng S số tiền là 160.983.333 đồng (Một trăm sáu mươi triệu chín trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)
- - Trả cho vợ, chồng chị Lê Thị N1, anh Bùi Trí A số tiền là: 144.240.000 đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng)
- - Trả cho vợ, chồng bà Lê Thị H2, ông Phạm Văn T2 số tiền là 51.466.666 đồng (Năm mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng)
- - Trả cho vợ, chồng bà Lê Thị N3, ông Lê Văn T1 số tiền là 25.733.333 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Tổng số tiền chị L phải trả cho những người trên là 1.155.814.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi lăm triệu tám trăm mười bốn nghìn đồng).
* Chênh lệch công nợ chung:
- - Anh Nguyễn Văn M phải trả cho chị Lê Thị L số tiền chênh lệch về khoản nợ chung là 503.657.000đ (Năm trăm linh ba triệu sáu trăm năm bảy nghìn đồng) và số tiền 50.939.000 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi chín nghìn đồng) là số tiền chị L trả cho Ngân hàng TMCP P1 tiền gốc và lãi theo phân kỳ từ tháng 9/2023 đến nay. Tổng số tiền anh M chênh lệch là: 554.946.000đ.
- - Chị L phải trả cho anh M số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Là ½ số tiền anh M đã trả cho ngân hàng C2 khoản tiền nhờ bà N4 vay tiền nước sạch 17.000.000 đồng.
* Giao cho anh Nguyễn Văn M phải trả các khoản nợ riêng gồm:
- + Trả cho bà Nguyễn Thị N4 (khoản vay Ngân hàng B1 chi nhánh V) số tiền 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng)
- + Trả cho bà Nguyễn Thị N4 (khoản vay Hội người cao tuổi) số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)
- + Trả cho bà Lưu Thị L2 số tiền 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng).
Tổng số tiền anh Nguyễn Văn M phải trả tự trả cho những người trên là: 141.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu đồng)
* Đối trừ các khoản tiền chênh lệch của anh M và chị L: Chị Lê Thị L phải trả cho anh Nguyễn Văn M số tiền là 88.560.000đồng (T3 mươi tám triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị L và anh M không trả, hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ thì phải trả khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả quy định tại điều 357 BLDS 2015.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị L còn phải trả tiền lãi và tiền gốc theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng TMCP P1, nếu chị L không trả, hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ của Ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCNQSD số CB 647898 số vào sổ CH 00501 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2015 địa chỉ thửa đất tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, và tài sản gắn liền với đất để trả nợ cho ngân hàng TMCP P1.
[3] Về án phí:
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Anh M và bà N4 không phải chịu án phí phúc thẩm. Anh M được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002408 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành; Chị Á và chị N5 phải chịu mỗi người 300.000 đồng án phí DSPT được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002419 – Q49 và biên lai thu số 0002420- Q24 cùng ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu 30.086.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về công nợ chung và 4.064.000 đồng án phí thanh toán tài sản cho bà N4. Tổng án phí là: 34.150.000 đồng. Chị L được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu số 0007995 ngày 27/3/2023. Chị Lê Thị L còn phải nộp số tiền 13.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Anh Nguyễn Văn M phải chịu 30.086.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về công nợ chung và 4.064.000 đồng án phí thanh toán tài sản cho bà N4 và 7.050.000 đồng án phí các khoản nợ riêng. Tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm anh Nguyễn Văn M phải nộp là: 41.200.000đ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-PT ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về chia tài sản sau ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn với anh M
