|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-PT.
Ngày: 03-6-2025
V/v “Ly hôn, chia tài sản chung".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thuỷ
Ông Nguyễn Văn Quế
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, chia tài sản chung ".
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2025/QĐXX-PT ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1967 (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Diệp Thị T, sinh năm 1973 (Có mặt)
- Ông Vũ Vinh Q, sinh năm 1990 ( Vắng mặt)
- Ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1994 (Có mặt)
- Bà Hứa Thị Hoa L, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 09/02/2004 (Có mặt)
- Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1973( Vắng mặt)
- Ông Lê Sỹ L1, sinh năm 1957 ( Vắng mặt)
- Ông Vũ Hồng C, sinh năm 1978( Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thu H1, sinh năm 1983 ( Vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hồng Q1, sinh năm 1962 ( Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1965 ( Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1996 (Có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc B là nguyên đơn, bà Diệp Thị T là bị đơn.
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Địa chỉ: Tổ 11, phường Gia Sàng, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Địa chỉ: xóm T, xã S, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ A, phường G, TP ., tỉnh Thái Nguyên
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Địa chỉ: TDP G, thị trấn H, huyện Đ, Thái Nguyên
Địa chỉ: TDP G, thị trấn H, huyện Đ, Thái Nguyên
Địa chỉ:TDP T, thị trấn H, huyện Đ, Thái Nguyên
Địa chỉ:TDP T, thị trấn H, huyện Đ, Thái Nguyên
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc B trình bày:
Ông và bà Diệp Thị T kết hôn ngày 28/12/1995 có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Ông bà kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, có mâu thuẫn nhưng không có mâu thuẫn gì lớn. Đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lớn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, do bà T không tôn trọng ông, không chăm lo cuộc sống gia đình, không vun vén gia đình từ tháng 6/2021 cho đến nay. Bà T đi làm, tự làm tự ăn không có trách nhiệm gì với chồng con. Hai vợ chồng không còn tiếng nói chung, không ai hỏi ai, vợ chồng ly thân từ tháng 7/2023 đến nay.
Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 22/9/1996 và Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 09/02/2004. Hiện nay con chung đã trưởng thành, có đủ khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chỉ có tài sản chung là 01 nhà cấp 4, xây năm 1998 trên diện tích đất tại thửa số 40, tờ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, nguồn gốc diện tích đất là do UBND xã H đổi cho bố mẹ ông là ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị K, đến năm 1993 sau khi bố ông mất thì ông Nguyễn Hồng Q1 là anh trai ruột của ông đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994 gia đình ông họp chia đất, 03 chị gái ông được chia mỗi người 02m mặt đường, còn ông và ông Q1 mỗi người 10m đất mặt đường, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, mà chỉ có biên bản họp gia đình viết tay, lúc đó ông và ông Q1 chưa có gia đình riêng. Năm 2004 sau khi đã được cơ quan chuyên môn đo đạc, có số ô, số thửa thì ông Q1 mới làm thủ tục tách đất và ông đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ngôi nhà cấp 4 là tài sản chung, thì vợ chồng ông chỉ có một số tài sản là đồ dùng sinh hoạt lặt vặt khác, ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài sản riêng: Ông xác định 01 thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích đất 637m2 tại tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và thửa đất số 40, tờ bản đồ số 12, có diện tích 149m2, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là tài sản riêng của ông có trước khi kết hôn.
Về công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Diệp Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xác định ông B trình bày về thời gian kết hôn là đúng, sau khi kết hôn cuốc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Đến đầu năm 2023 thì vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B đòi bán thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích 637m2, địa chỉ thửa đất tại TDP V, thị trấn H, huyện Đ, bà không nhất trí. Ông B và bà bất đồng quan điểm sống, ông B không tôn trọng bà và gia đình bà. Ông B tự ý ăn riêng từ tháng 7/2023 và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên ông B làm đơn ly hôn bà cũng nhất trí.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung như ông B trình bày là đúng, hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có tài sản chung gồm:
- 01 nhà cấp 4, xây dựng năm 1998, trên diện tích đất tại thửa số 40, tờ bản đồ số 12, có diện tích 149m2, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguồn gốc diện tích đất là của bố mẹ chồng bà là ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị K, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lúc đó đã đứng tên ông Nguyễn Hồng Q1 là anh trai ruột của ông B. Bà lấy ông B năm 1995, đến năm 2005 thì ông Quảng tách diện tích đất thửa 40 cho vợ chồng bà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Ngọc B.
- 01 thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích đất 637m2 tại tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Ông B nói đã chuyển nhượng nhưng bà chưa được ký nên bà không biết. Thửa ruộng này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Ngọc B, và cũng được tách từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hồng Q1.
- Bà xác định vợ chồng bà có số tiền gửi tiết kiệm khoảng 700.000.000₫ (B1 trăm triệu đồng) tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp huyện Đ. Bà không biết gửi năm nào mà từ năm 2004 bà đi làm về đưa tiền lương cho chồng bà cầm khoảng 5-6 triệu/tháng, mọi chi tiêu sinh hoạt trong gia đình do chồng bà quản lý và chi tiêu. Đến nay bà xác định số tiền tiết kiệm 420.000.000đ tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp huyện Đ đứng tên anh Nguyễn Ngọc M là tài sản chung vợ chồng bà nên yêu cầu chia đôi số tiền tiết kiệm trên và yêu cầu chia đôi tài sản chung theo quy định
Tại phiên toà bà T và người được bị đơn uỷ quyền xác định toàn bộ tài sản có được sau khi kết hôn là tài sản chung vợ chồng, bà T kết hôn với ông B đã có công tôn tạo duy trì tài sản, số tiền tiết kiệm là tài sản chung của vợ chồng tích cóp được trong quá trình chung sống, nên yêu cầu chia đôi tài sản chung và chia đôi số tiền tiết kiệm. Trong trường hợp không được chia đôi tài sản thì yêu cầu chích chia giá trị thửa ruộng đã bán là 40% của số tiền ruộng đã bán theo Hợp đồng chuyển nhượng đã ký kết là 120.000.000đ, đối với diện tích đất ở yêu cầu được chia 30% giá trị, đối với tài sản là ngôi nhà trên đất, yêu cầu được chia số tiền 50.000.000₫ và chia ½ số tiền tiết kiệm đã gửi hiện nay đứng tên con trai là anh Nguyễn Ngọc M.
Tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc M trình bày: Anh xác định từ khi anh trưởng thành biết suy nghĩ thì mẹ anh không đưa tiền cho bố anh. Về nguồn gốc số tiền hiện nay anh gửi tiết kiêm tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ là do năm 2022 bố anh bán thửa ruộng của bố anh được chia nên đã cho anh 400.000.000 đ (Bốn trăm triệu đồng) để sau khi anh học xong cấp 3 sẽ dùng số tiền này đi học nghề, nhưng do anh đi nghĩa vụ quân sự nên số tiền gửi này hiện nay vẫn còn là 420.000.000 đ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng). Nay bà T yêu cầu chia số tiền tiết kiệm anh đang đứng tên, anh không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Hồng C và chị Nguyễn Thu H1 trình bày: Tháng 9/2022 vợ chồng anh chị có mua của ông B thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích đất 637m2 tại tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 250.000.000đ, anh chị đã trả tiền cho ông B và thửa ruộng trên đã được sang tên cho vợ chồng anh theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tiến H, Lê Sỹ L1 trình bày: xác định hiện trạng diện tích đất hiện nay đang ở, các gia đình sử dụng ổn định, liên tục, có ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp gì, việc ông B, bà T tranh chấp về tài sản các ông không có ý kiến gì và cũng không có tranh chấp về ranh giới, giáp ranh với nhà ông B, bà T.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn luật sư Phạm Ngọc K1 trong quá trình giải quyết, tại phiên tòa có ý kiến trình bày và tranh luận:
Đề nghị bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Diệp Thị T với lý do:
Nguồn gốc tài sản diện tích thửa 40, tờ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ là của ông B được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, đây không phải là tài sản chung của ông B với bà T.
Thửa 163, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố V, thị trấn H là định suất ruộng của ông B do được Hợp tác xã chia từ năm 1993, đây là tài sản riêng của ông B có được trước khi kết hôn, không phải là tài sản chung vợ chồng nên bà T không có quyền yêu cầu đối với tài sản này.
Đối với số tiền tiết kiệm của anh M là do ông B bán tài sản riêng và cho con nên không phải là tài sản chung của vợ chồng.
Trong quá trình chung sống ông B cũng không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
Với nội dung trên, tại bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc B. Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc B với bà Diệp Thị T
- Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét
- Về tài sản chung:
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng đất thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích đất 637m2, xác định đây là tài sản riêng của ông Nguyễn Ngọc B.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu chia tài sản chung: Ông Nguyễn Ngọc B được quyền sử dụng 01 nhà cấp 4, công trình phụ và toàn bộ tài sản trên đất trên diện tích đất tại thửa 40, tờ bản đồ số 14, có diện tích theo hiện trạng 134,4m², địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất do Công ty cổ phần T3 và xây dựng số 6 đo đạc kèm theo)
Tổng giá trị tài sản ông B được hưởng là 614.320.260đ (Sáu trăm mười bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn hai trăm sáu mươi đồng)
Ông Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm trích chia giá trị tài sản cho bà T số tiền 337.802.260₫ (Ba trăm ba mươi bảy triệu tám trăm linh hai nghìn hai trăm sáu mươi đồng)
Bà Diệp Thị T được quyền sở hữu số tiền 337.802.260₫ (Ba trăm ba mươi bảy triệu tám trăm linh hai nghìn hai trăm sáu mươi đồng) do ông Nguyễn Ngọc B trích chia.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/02/2025 (theo dấu công văn đến của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên ngày 28/02/2025) nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc B có đơn kháng cáo một phần bản án ly hôn sơ thẩm số 04 ngày 14/02/2025 của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên về quyết định phân chia tài sản chung và cho rằng: Toàn bộ thửa đất số 40 tờ bản đồ số 12 là tài sản riêng của ông B có trước thời kỳ hôn nhân do bố mẹ đẻ ông cho ông nhưng đứng tên anh trai ông là ông Nguyễn Hồng Q1, năm 2004 ông Q1 mới làm thủ tục tách đất cho ông, ngày 14/4/2005 ông B được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên Nguyễn Ngọc B. Toà án sơ thẩm cho rằng thửa đất nêu trên là tài sản chung của ông và bà T và trích chia cho bà T 30% giá trị thửa đất ông B không nhất trí. Ông B đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét để bảo vệ quyền lợi cho ông
Ngày 28/02/2025 bà Diệp Thị T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm không đồng ý ghi nhận phần công sức đóng góp mà bà đáng lẽ được hưởng theo quy định của pháp luật tại phần diện tích ruộng thửa 163 tờ bản đồ số 14 mà ông B đã bán từ năm 2024 với giá 250.000.000 đồng. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho bà công sức đóng góp gìn giữ, tôn tạo tài sản này và cho bà được hưởng 40% giá trị tài sản này.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án:
Xét nội dung kháng cáo của bà T thấy rằng: Đối với thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích đất 637m2, ngày 15/9/2022 ông B đã chuyển nhượng cho anh Vũ Hồng C và chị Nguyễn Thị H3 với giá ghi trong Hợp đồng là 120 triệu đồng, theo lời khai của anh C, chị H3 xác định mua với giá 250 triệu đồng. Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B chuyển nhượng cho ông C và bà H3 đều xác định diện tích đất này có nguồn gốc do ông B được Hợp tác xã giao khoán năm 1993, đây là định suất ruộng ông B được Hợp tác xã chia theo quy định. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 163 là tài sản riêng của ông B là có căn cứ. Việc bà T đề nghị xem xét công sức gìn giữ, tôn tạo tài sản này tương đương mức 40% giá trị tài sản là không có căn cứ chấp nhận.
Xét nội dung kháng cáo của ông B không đồng ý với việc Tòa án cấp sơ thẩm lấy tài sản riêng là thửa số 40 TBĐ 12 ra chia cho bà T, thấy rằng:
Thửa đất số 40, tờ bản đồ 12, diện tích đất ONT 60m2, diện tích đất LNK là 89m² thuộc thị trấn H, huyện Đ, thửa đất mang tên Nguyễn Ngọc B cấp ngày 14/4/2005 là tài sản riêng của ông B được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông B đưa tài sản riêng vào sử dụng chung, ý chí của các bên thể hiện là cho chung vợ chồng ông B, bà T là không phù hợp.
Tuy nhiên, bà T kết hôn với ông B và cùng ông B sinh sống trên thửa đất này từ năm 1995 đến nay (trên 30 năm), bà T đã đóng góp nhiều công sức gìn giữ, duy trì và tôn tạo thửa đất nên cần xem xét công sức duy trì và tôn tạo tài sản cho bà T tương ứng với 30% giá trị của thửa đất số 40 tờ bản đồ số 12 (theo biên bản định giá là 691.295.000 đồng) là 207.388.500 đồng là phù hợp.
Đối với số tiền tiết kiệm tại Ngân hàng N, Chi nhánh huyện Đ: Tòa án huyện Đ xác định số tiền tiết kiệm là tài sản chung vợ chồng ông B bà T là 170.000.000₫ chia mỗi người được nhận ½ = 85.000.000đ, xét thấy là phù hợp. Như vậy, nội dung kháng cáo của bà T nêu trên là không có căn cứ chấp nhận; nội dung kháng cáo của ông B đề nghị xem xét thửa đất số 40 TBĐ 12 diện tích 149m2 (trong đó: 60m2 đất ONT và 89m2 đất CLN) là tài sản riêng của ông B là có căn cứ chấp nhận. Cần bác kháng cáo của của T, chấp nhận kháng cáo của ông B. Sửa Bản án sơ thẩm số: 04/2025/HNGĐ-ST ngày 14/2/2025 của Tòa án huyện Đ, theo hướng không chấp nhận phản tố của bà T về việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là thửa đất số 40 TBĐ số 12 nêu trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 308/BLTTDS, bác kháng cáo của bà T, chấp nhận kháng cáo của ông B, sửa Bản án sơ thẩm số: 04/02/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của Tòa án huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Về án phí phúc thẩm: Ông B không phải chịu án phí phúc thẩm; bà T phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2.] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc B, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về nguồn gốc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là của bố mẹ đẻ ông Nguyễn Ngọc B. Năm 1994 bà Phạm Thị K là mẹ đẻ của ông B đã chủ trì họp gia đình gồm có bà Phạm Thị K và các con đẻ là bà C1, M1, ông Q1, L2, B để chia đất cho các con đẻ của bà K (Bút lục 05), có biên bản họp gia đình viết tay, lúc đó ông B và ông Q1 chưa có gia đình riêng. Năm 2004 ông Nguyễn Hồng Q1 làm thủ tục tách đất và ông Nguyễn Ngọc B, nội dung của hợp đồng tách QSD đất giữa bên tách QSD đất là ông Nguyễn Hồng Q1 với bên nhận chuyển tách đất là ông Nguyễn Ngọc B với lý do "cho em một phần để sử dụng". Ngày 14/4/2005 ông Nguyễn Ngọc B đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất gồm thửa số 40 tờ bản đồ 12 có diện tích 89m² đất LNK 60m² đất ONT.
[3.] Như vậy, thửa đất số 40, tờ bản đồ 12, diện tích đất ONT 60m2, diện tích đất LNK là 89m² thuộc thị trấn H, huyện Đ, thửa đất mang tên Nguyễn Ngọc B cấp ngày 14/4/2005 là tài sản riêng của ông B được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Theo các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ án thì chưa có tài liệu nào thể hiện ông B đã nhập tài sản riêng vào tài sản chung của ông B và bà T.
Toà án cấp sơ thẩm đã xác định việc ông B đưa tài sản riêng vào sử dụng chung, ý chí của các bên thể hiện là cho chung vợ chồng ông B, bà T, từ đó xác định thửa đất số 40 tờ bản đồ số 12 nêu trên là tài sản chung của vợ chồng ông B, bà T là không đúng với quy định tại các Điều 46, Điều 47 và Điều 48 của Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với tài sản trên đất là 01 nhà cấp 4 được hai bên thừa nhận xây dựng năm 1998 là sau thời điểm ông B được phân chia đất là tài sản chung của ông B và bà T.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc B, xác định thửa đất số 40 tờ bản đồ 12 có diện tích 89m² đất LNK và 60m² đất ONT ông Nguyễn Ngọc B đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 14/4/2005 là tài sản riêng của ông Nguyễn Ngọc B.
[5.] Xét kháng cáo của bà Diệp Thị T về nội dung đề nghị chia cho bà công sức đóng góp gìn giữ, tôn tạo tài sản này và cho bà được hưởng 40% giá trị thửa đất số 163, tờ bản đồ số 14 địa chỉ: Tổ dân phố V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ông B đã bán từ năm 2022 với giá 250.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, thửa đất nêu trên là định suất ruộng của ông B có trước khi kết hôn với bà T. Toà án cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất số 163, tờ bản đồ số 14 là tài sản riêng của ông Nguyễn Ngọc B là có căn cứ. Bà T không có căn cứ nào chứng minh có công sức tôn tạo đối với thửa đất nêu trên, do vậy không có căn cứ tính công sức đóng góp của bà T đối với thửa đất này. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T.
[6] Tuy nhiên, xét quá trình bà T kết hôn với ông B từ năm 1995, bà T và ông B đã xây dựng nhà, sinh con và cùng sinh sống trên thửa đất 40 tờ bản đồ 12, bà T có công sức lớn vào việc đóng góp, tôn tạo, gìn giữ tài sản cùng với ông B với thời gian hơn 30 năm. Hiện tại bà T không có thu nhập ổn định, chưa có nơi ở mới. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T sau khi ly hôn với ông B nên cần xem xét công sức duy trì và tôn tạo tài sản cho bà T tương ứng với 30% giá trị của thửa đất số 40 tờ bản đồ số 12 (theo biên bản định giá là 691.295.000 đồng) là 207.388.500 đồng là phù hợp.
[7] Do cấp phúc thẩm xác định thửa đất số 40 tờ bản đồ 12 có diện tích 89m² đất LNK và 60m² đất ONT ông Nguyễn Ngọc B đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 14/4/2005 là tài sản riêng của ông Nguyễn Ngọc B. Hội đồng xét xử phúc thẩm, căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm như phân tích nêu trên.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do ông B được chấp nhận kháng cáo nên ông B không phải chịu án phí phúc thẩm. Bà T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Về án phí dân sự sơ thẩm, do giá trị tài sản của bà T và ông B được chia không thay đổi so với bản án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm được giữ nguyên.
Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ -ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc B. Không chấp nhận kháng cáo của bà Diệp Thị T.
Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ -ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ vào các Điều 33, 43, 46, 47; 48, 51, 59 của của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
[1] Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc xác định tài sản chung của ông B và bà T đối với thửa ruộng số 163, tờ bản đồ số 14, diện tích đất 637m² và thửa đất số 40, tờ bản đồ số 12 đã có giấy chứng nhận QSD đất số AC 025882 do UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 14/4/2005 mang tên Nguyễn Ngọc B có diện tích 60m²; mục đích sử dụng đất: ONT và thửa đất số 40, tờ bản đồ số 12, có diện tích 89m², mục đích sử dụng đất: LNK đã có giấy chứng nhận QSD đất số AC 025883 do UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 14/4/2005 mang tên Nguyễn Ngọc B. Theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất là 134,4m². Địa chỉ thửa đất tại: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu chia tài sản chung đối với 01 nhà cấp 4, công trình phụ và toàn bộ tài sản trị giá 90.827.520 đồng được xây dựng trên tài sản riêng của ông B là thửa đất số 40, tờ bản đồ số 12 và 170.000.000đồng gửi tiết kiệm.
Giao cho ông Nguyễn Ngọc B được quyền sử dụng 01 nhà cấp 4, công trình phụ và toàn bộ tài sản trên diện tích đất tại thửa 40, tờ bản đồ số 12; địa chỉ thửa đất tại: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, cụ thể: Theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 025882 do UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 14/4/2005 mang tên Nguyễn Ngọc B có diện tích 60m²; mục đích sử dụng đất: ONT và thửa đất số 40, tờ bản đồ số 12, có diện tích 89m², mục đích sử dụng đất: LNK theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 025883 do UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 14/4/2005 mang tên Nguyễn Ngọc B (theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất là 134,4m²). Có sơ đồ kèm theo. Tổng giá trị tài sản ông B được hưởng là 614.320.260đ (Sáu trăm mười bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn hai trăm sáu mươi đồng)
Ông Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm trích chia giá trị tài sản cho bà T và công sức duy trì tôn tạo tài sản đối với thửa đất số 40 tờ bản đồ số 12 số tiền là 337.802.260₫ (Ba trăm ba mươi bảy triệu tám trăm linh hai nghìn hai trăm sáu mươi đồng)
Bà Diệp Thị T được quyền sở hữu số tiền 337.802.260₫ (Ba trăm ba mươi bảy triệu tám trăm linh hai nghìn hai trăm sáu mươi đồng) do ông Nguyễn Ngọc B trích chia.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[2]. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm hoàn trả bà Diệp Thị T số tiền chi phí tố tụng 18.500.000đ (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng)
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 28.572.810đ án phí dân sự có giá ngạch. Bà Diệp Thị T phải chịu 16.890.113 đồng án phí dân sự có giá ngạch. Ông B đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006978 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, ông B còn phải nộp tiếp số tiền 28.272.810 đồng.
Bà Diệp Thị T phải chịu 16.890.113 đồng án phí dân sự có giá ngạch. Bà T đã nộp 21.000.000 đồng, nên được hoàn lại số tiền 4.109.887đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007084 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ.
Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ -ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC TÀI SẢN
