Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HC-ST

Ngày: 19-06-2025

V/v khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Phương;

Ông Võ Hoàng Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên

Trong các ngày 11/6 và ngày 19/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-HC, ngày 04 tháng 11 năm 2024 về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Trần Công Á, sinh năm: 1965;

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Á là: Chị Bùi Thị Anh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

· Người bị kiện: 1/ Ủy ban nhân dân huyện T;

2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T.

Địa chỉ: Số C, đường N, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện T và Ủy ban nhân dân huyện T là ông Phan Công L – Phó Chủ tịch UBND huyện T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T là: Ông Trần Đăng K - phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T; Địa chỉ: Số B, đường N, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị T, anh K có mặt tại phiên tòa, Ông L đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND Huyện T, UBND Huyện T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 22/8/2024 của người khởi kiện ông Trân Công Á1 trình bày:

Ngày 16/05/2023, ông Á1 thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện T, thì nhận được các văn bản trả lời sau:

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, Phòng TNMT huyện Tân Hồng ban hành văn bản số 1180/TNMT về việc chưa thể tham mưu UBND huyện ban hành quyết định giao đất và trả hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Á1.

Tiếp theo đó, ông Á1 có làm đơn kiến nghị gửi UBND huyện T, kiến nghị xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ál theo đúng quy định của Pháp luật.

Ngày 12 tháng 04 năm 2024, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành văn bản số 153/UBND-NC với nội dung “Việc ông Trần Công Á yêu cầu cấp giấy chứng nhận tại nền số 77, 78 lô C theo giá được UBND Huyện duyệt tại công văn số 355/UBND-LTPP ngày 20/10/2008 là không phù hợp với Luật đất đai hiện hành. Lý do: Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất là thời điểm Nhà nước Quyết định giao đất theo quy định tại khoản 3 điều 108 Luật đất đai 2013"

Theo đó, ông Á đã thực hiện việc khiếu nại văn bản số 153/UBND-NC ngày 12 tháng 04 năm 2024 của Ủy ban nhân dân huyện T và nhận được quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ban hành ngày 16/08/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu với nội dung “Giải quyết bác đơn khiếu nại của Trần Công Á.

Văn bản số 153/UBND-NC ngày 12 tháng 04 năm 2024 và quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ban hành ngày 16/08/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T áp dụng trong trường hợp của ông Á là không đúng vì ông Á đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các thửa đất theo đúng hợp đồng mua bán số 01/HĐ-MB ngày 29/03/2000 với Ban quản lý công trình chợ T1.

Căn cứ hợp đồng mua bán số 01/HĐ-MB ngày 29/03/2000 và văn bản số 355/UBND-LTPP của UBND huyện T (về việc duyệt giá giao đất thu tiền sử dụng đất chương trình 256 xã T) của UBND huyện T ban hành ngày 20/10/2008 thì đến thời điểm ngày 08/02/2018, ông Á đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính với các thửa đất của mình theo đúng quy định pháp luật.

Hiện tại ông Á đang sử dụng ổn định các thửa đất này và không phát sinh tranh chấp với ai.

Theo đó, tại buổi đối thoại ngày 02/08/2024, UBND huyện T cung cấp quyết định 73/QĐ.UB-HC về việc hủy hợp đồng mua bán nền nhà ngày 29/03/2000 giữa UBND xã T với ông Trần Công Á tại nền số 77,78 16 C. Ông Á chưa từng được nhận và chưa biết gì về quyết định nêu trên.

Quyết định 73/QĐ-UB-HC của UBND huyện T ban hành ngày 24/01/2006, Văn bản số 153/UBND-NC ngày 12 tháng 04 năm 2024 và quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ban hành ngày 16/08/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T đã xâm phạm trầm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông cũng như gia đình chúng ông.

Vì vậy, yều cầu Tòa án giải quyết:

  1. Hủy Quyết định số 73/QĐ-UB HC ngày 24/01/2006 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc hủy hợp đồng bán nền nhà khu dân cư xã T.
  2. Huỷ văn bản số 153/UBND-NC, ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp về việc trả lời đơn;
  3. Hủy Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu.

* Theo Văn bản ý kiến số 507/UBND-NC, ngày 13/12/2024 của người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Ngày 29/3/2000, ông Trần Công Á ký hợp đồng mua bán nền nhà với UBND xã T, mua 03 nền nhà số 14, 15, 16 lô C trong phạm vị chợ T1 với giá thỏa thuận của 03 nền là 37.500.000 đồng (mỗi nền là 12.500.000 đồng).

Ngày 11/11/2004, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 3545/QĐ-UB. NĐ về việc giao quyền sử dụng đất ở cho ông Trần Công Á tại nền số 14, 15,16 lô C, tờ bản đồ số 06, diện tích 293,25 m² thuộc xã T.

Đến năm 2006, UBND Huyện chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát, kiểm tra hiện trạng bố trí nền theo chương trình 256 tại xã T, phát hiện hộ ông Trần Công Á được cấp 03 nền theo chương trình 256 là không phù hợp theo Quyết định số 256/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định một hộ chỉ được cấp một nền.

Ngày 24/01/2006, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 73/QĐ-UB-HC về việc hủy hợp đồng mua bán nền nhà ngày 29/3/2000 giữa UBND xã T với ông Trần Công Á tại nền nhà số G, 78 lô C (theo hợp đồng ký 29/3/2000 là nền số 14, 15, 16 lô C sau khi kiểm tra đo đạc thực tế và giải thửa lại chỉnh thành nền số 76, 77, 78 lô C).

Đối với 03 nền nêu trên, có 02 nền số 77, 78 lô C phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định; riêng nền số 76 lô C nộp tiền theo chương trình 256. Ông Trần Công Á đã nộp đủ tiền cho nền số 76 lô C là 12.500.000 đồng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Ngày 20/10/2008, Ủy ban nhân dân Huyện B Công văn số 355/UBND-LTPP về việc duyệt giá giao đất thu tiền sử dụng đất chương trình 256, xã T; trong đó, hộ ông Trần Công Á được duyệt 02 nền số 77C và 78C, giá 21.600.000 đồng/01 nền.

Ông Trần Công Á thực hiện nghĩa vụ tài chính và nộp tiền đối với 02 nền như sau:

  • Nền 77 lô C, ông Trần Công Á nộp số tiền 21.600.000 đồng (giai đoạn nộp từ năm 2006 đến năm 2018, hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được UBND xã T xác nhận trên giấy nộp tiền 02 (hai) biên lai cho nền số 77 lô C.
  • Nền 78 lô C, ông Trần Công Á nộp số tiền 21.600.000 đồng (giai đoạn nộp từ năm 2001 đến năm 2016, hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được UBND xã T xác nhận tại Văn bản số 16/ĐN-UBND ngày 16/5/2023, xác nhận nộp cho nền số 78 lô C.

Năm 2024, ông Trần Công Á làm đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nền số 77, 78 lô C do đã nộp tiền sử dụng đất đúng theo giá được UBND Huyện phê duyệt tại công văn số 355/UBND-LTPP ngày 20/10/2008.

Ngày 12/4/2024, Chủ tịch UBND huyện T ký Công văn số 153/UBND-NC trả lời đơn ông Trần Công Á. Nội dung: Ông Trần Công Á yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nền số 77, 78 lô C là chưa thực hiện được, vì theo quy định “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất".

Ngày 15/5/2024, ông Trần Công Á làm đơn khiếu nại yêu cầu hủy văn bản số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của UBND Huyện và thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông tại nền số 77, 78 lô C, Cụm dân cư chợ T1.

Ngày 16/8/2024, Chủ tịch U ban hành Quyết định 531 về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Công Á (lần đầu). (Đính kèm hồ sơ giải quyết khiếu nại).

Theo nội dung khởi kiện của ông Trần Công Á yêu cầu hủy Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T, Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T, Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T. Chủ tịch UBND Huyện T không thống nhất. Lý do: Nội dung giải quyết khiếu nại của ông Trần Công Á là phù hợp theo quy định pháp luật về đất đai.

Do đó, UBND Huyện T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Á giữ nguyên các Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T, Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T có ông Trần Đăng K trình bày: giữ nguyên ý kiến của Chủ tịch UBND huyện T theo công văn số số 507/UBND-NC, ngày 13/12/2024 là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Á; Giữ nguyên Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T, Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T.

Đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu ý kiến về việc chấp hành theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý đến khi xét xử, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Luật tố tụng hành chính và đề xuất đường lối xử lý vụ án là: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Á về việc: hủy Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T, Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2] Về tố tụng:

[2.1] Ngày 15/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ra thông báo thụ lý vụ án khởi kiện vụ án hành chính giữa ông Trần Công Á và Ủy Ban Nhân Dân Huyện T, Chủ tịch UBND Huyện T đối với các Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T, Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T. Xét khiếu kiện của ông Trần Công Á là loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại Điều 30 và 32 Luật tố tụng hành chính và đơn khởi kiện còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính nên được chấp nhận.

[2.2] Người đại diện theo ủy quyền của UBND và Chủ tịch UBND Huyện T là ông Phan Công L có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[2.3] Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T, Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T bị khởi kiện là những quyết định hành chính có liên quan nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo khoản 1 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.

[3] Về nội dung:

Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T về việc hủy hợp đồng bán nền nhà khu dân cư xã T ngày 29/3/2000 (gọi tắt là Quyết định 73); Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn (gọi tắt là Công văn 153) và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T (gọi tắt Quyết định 531).

[3.1] Về thẩm quyền ban hành:

Việc ban hành các văn bản gồm: Quyết định 73, Công văn 153 và Quyết định 531 là đúng thẩm quyền theo quy định khoản 1 Điều 18 của Luật khiếu nại 2011;

[3.2] Về trình tự thủ tục ban hành Quyết định 73:

Căn cứ vào hợp đồng mua bán nền nhà với UBND xã T bằng hợp đồng số 01 ngày 29/3/2000; theo đó, ông Trần Công Á được mua 03 nền nhà số A, A, 16 lô c trong phạm vi chợ T1, với giá thỏa thuận 03 là là 37.500.000 đồng (mỗi nền là 12.500.000 đồng).

Ngày 11/11/2004, Ủy ban nhân dân Huyện T ban hành Quyết định số 3545/QĐ-UB. NĐ về việc giao quyền sử dụng đất ở cho ông Trần Công Á tại nền số 14, 15,16 lô C, tờ bản đồ số 06, diện tích 293,25 m² thuộc xã T.

Đến năm 2006, UBND Huyện chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát, kiểm tra hiện trạng bố trí nền theo chương trình 256 tại xã T, phát hiện hộ ông Trần Công Á được cấp 03 nền theo chương trình 256 là không phù hợp theo Quyết định số 256/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định một hộ chỉ được cấp một nền.

Ngày 24/01/2006, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 73/QĐ-UB-HC về việc hủy hợp đồng mua bán nền nhà ngày 29/3/2000 giữa UBND xã T với ông Trần Công Á tại nền nhà số G, 78 lô C (theo hợp đồng ký 29/3/2000 là nền số 14, 15, 16 lô C sau khi kiểm tra đo đạc thực tế và giải thửa lại chỉnh thành nền số 76, 77, 78 lô C).

Tuy nhiên, quyết định 73 này, UBND huyện T không có giao cho ông Á theo đúng quy định nên ông Á không biết để khiếu nại làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Á theo quy định tại điều 12 Luật Khiếu nại.

[3.3] Về trình tự thủ tục công văn 153 và Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu 531:

Mặc dù ông Á không biết được việc UBND huyện T ban hành quyết định 73 hủy hợp đồng bán nền; Nhưng khi UBND huyện T ban hành công văn số 355/UBND-LTPP ngày 20/10/2008 về việc phê duyệt giá đất đối với 02 nền 77, 78 lô C theo giá mới mỗi nền là 21.600.000đ thì ông Á cũng chấp nhận và nộp theo quy định.

Sau khi đã hoàn tất thủ tục tài chính đối với 02 nền 77, 78 lô C, ông Á có đơn yêu cầu UBND huyện T cấp quyền sử dụng đối với 02 nền 77, 78 lô C thì Chủ tịch UBND huyện T ban hành Công văn số 153 về việc trả lời đơn cho ông Á với nội dung: Ông Trần Công Á yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nền số 77, 78 lô C là chưa thực hiện được, vì theo quy định “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất".

Ngày 15/5/2024, ông Trần Công Á làm đơn khiếu nại yêu cầu hủy văn bản số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của UBND huyện;

Ngày 06/6/2024 UBND huyện T thông báo về việc thu lý giải quyết khiếu nại lần đầu và ban hành văn bản giao cho Thanh tra huyện tiến hành xác minh nội dung khiếu nại của ông Á;

Ngày 11/6/2024 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 290 về việc thành lập tổ xác minh nội dung khiếu nại lần đầu;

Ngày 25/7/2024 Tổ xác minh báo cáo kết quả xác minh;

Ngày 16/8/2024, Chủ tịch U Quyết định 531 về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Công Á (lần đầu).

Ông Á nhận được quyết định số 531 ngày 22/8/2024;

Như vậy, về trình tự thủ tục ban hành công văn 153 và quyết định số 531, Chủ tịch UBND huyện T đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 27, 28, 29, 30, 31, 32 Luật khiếu nại 2011;

[3.4] Về nội dung ban hành các văn bản

Sau khi ký hợp đồng mua bán nền số 01 ngày 29/3/2000; thì UBND Huyện T có ban hành Quyết định số 3545/QĐ-UB. NĐ ngày 11/11/2004 về việc giao quyền sử dụng đất ở cho ông Trần Công Á tại nền số 14, 15,16 lô C, tờ bản đồ số 06, diện tích 293,25 m² thuộc xã T.

Căn cứ vào hợp đồng và quyết định giao quyền sử dụng đất, ông Trần Công Á đã nộp các khoản tiền như sau:

  • Ngày 11/7/2001 nộp số tiền: 5.000.000đ nộp cho nền 78C;
  • Ngày 14/6/2001 nộp số tiền: 10.000.000đ nộp cho nền 78C;
  • Ngày 19/8/2004 nộp số tiền: 6.500.000đ nộp cho nền 78C;

Đến năm 2006, qua rà soát thì UBND Huyện T cho rằng việc ký hợp đồng cho ông Á được mua 03 nền là không đúng quy định nên ra Quyết định 73 hủy hợp đồng bán nền số 16 ngày 29/3/2000 (nhưng hợp đồng mà các bên ký kết là hợp đồng số 01);

Đúng ra, khi UBND huyện T ra quyết định hủy hợp đồng bán nền nhà với ông Á thì phải thu hồi Quyết định số 3545 về việc giao quyền sử dụng đất cho ông Á đối với 03 nền. Đồng thời, giải quyết hậu quả đối với các khoản tiền đã nhận của ông Á.

Ngày 20/10/2008 U công văn số 355 phê duyệt về giá đối với nền 77,78 lô C, mỗi nền giá là 21.600.000đ; Trong công văn này không có quy định về thời hạn nộp tiền để được công nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông Á đã nộp tiếp các lần tiền cụ thể như sau:

  • Ngày 23/12/2016 ông Á nộp 100.000đ cho nền 78C;
  • Ngày 23/12/2016 nộp 10.000.000đ cho nền 77C;
  • Ngày 08/02/2018 nộp 11.600.000đ cho nền 77C;

Như vậy, tới thời điểm 2004, ông Á cũng đã nộp cho nền 78C, chỉ còn thiếu 100.000. Còn nền 77C thì ông Á nộp đủ vào thời điểm 2018.

Đồng thời, trong suốt quá trình đó thì UBND Huyện T cũng không lần nào thông báo cho ông Á biết về hậu quả của việc chậm nộp tiền để được cấp quyền sử dụng đất.

Bên cạnh đó, căn cứ vào lời thừa nhận của các bên đương sự tại phiên tòa thì 03 nền nhà này (14, 15, 16 lô C nay là 76, 77, 78 lô C) ông Á đã xây dựng nhà và sử dụng đất ổn định từ năm 2001 cho đến nay. Do đó, việc Ủy Ban Nhân dân Huyện T không đồng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Á là chưa phù hợp.

Vì vậy, việc ông Á yêu cầu hủy Quyết định số 73/QĐ-UB HC ngày 24/01/2006 của Ủy ban nhân dân huyện T; Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T; văn bản số 153/UBND-NC, ngày 12/4/2024 của UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp tỉnh Đồng Tháp là phù hợp.

[4] Tại phiên tòa, xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của ông Á được chấp nhận nên ông Á không phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm;

Người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm đối với quyết định mà người khởi kiện yêu cầu hủy được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1, 3 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;

Căn cứ vào quy định tại các Điều 12, 18, 21, 27, 28, 30, 31, 32 của Luật khiếu nại 2011;

Căn cứ vào quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8, 11, 18, 21 Thông tư số: 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/TUBT QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Á về việc hủy Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 24/01/2006 của UBND Huyện T về việc hủy hợp đồng bán nền nhà khu dân cư xã T ngày 29/3/2000; Công văn số 153/UBND-NC ngày 12/4/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc trả lời đơn và Quyết định số 531/QĐ-UBND.NĐ ngày 16/8/2024 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Huyện T;

- Về án phí: ông Trần Công Á được nhận lại 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm theo biên lai thu số 0015225 ngày 28/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Ủy Ban Nhân Dân Huyện T phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm.

Người khởi kiện được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị kiện được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cục THADS Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, THC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HC-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 11/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HỦY QUYẾT ĐỊNH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger